Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lương Thanh Cường dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Hồng Thái tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2008 thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật (Mã số: 62.01). Hội đồng chấm luận án có sự tham gia phản biện của PGS. Thái Vĩnh Thắng (Trường Đại học Luật Hà Nội), PGS. Vũ Thư (Viện Nhà nước và pháp luật) và TS. Chu Văn Thành (Bộ Nội vụ). Công trình được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng công cuộc đổi mới toàn diện từ năm 1986 đã mang lại những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng; tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao (năm 2001 tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7,04%, năm 2003 tăng 7,24%, bình quân ba năm đạt 7,1%/năm; giai đoạn 2001 - 2005 đạt bình quân 7,51%). Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước còn bộc lộ nhiều hạn chế: hiệu lực quản lý chưa cao, một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất, kỷ luật lỏng lẻo, tham nhũng và lãng phí còn nghiêm trọng. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc chế định pháp luật về công vụ, công chức từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu chưa điều chỉnh theo xu hướng chuyên biệt; thiếu vắng các quy định cốt lõi về nguyên tắc công vụ trong nền kinh tế thị trường, trách nhiệm công vụ, trách nhiệm bồi thường của nhà nước và cơ chế phối hợp thực thi. Pháp luật chủ yếu tập trung vào đối tượng cán bộ, công chức mà thiếu các quy phạm trực tiếp điều chỉnh hoạt động công vụ; văn bản quy phạm còn mâu thuẫn, chồng chéo giữa Pháp lệnh Cán bộ, công chức với các Nghị định của Chính phủ; tiêu chuẩn ngạch bậc nặng về bằng cấp chính trị, chuyên môn mà thiếu tiêu chuẩn kỹ năng hành chính và kỹ năng vận dụng pháp luật.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và xu hướng điều chỉnh của chế định pháp luật về công vụ, công chức; rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện chế định này tại Việt Nam.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các khái niệm "công vụ", "cán bộ", "công chức", "viên chức", chế định pháp luật về công vụ, công chức, cùng đối tượng và phương pháp điều chỉnh của chế định này;
- Phân tích thực trạng chế định pháp luật về công vụ, công chức từ năm 1998 đến nay, đối chiếu với giai đoạn 1945 - 1998 để làm rõ quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm của chế định ở Việt Nam;
- Chỉ rõ sự cần thiết khách quan phải tiếp tục hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
- Xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chế định pháp luật về công vụ, công chức. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hai nội dung cốt lõi: các quy định về công vụ (quy định về việc) và các quy định về công chức (quy định về người) trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2008, có sự so sánh lịch sử với giai đoạn 1945 - 1998 và khảo cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế. Luận án không nghiên cứu các quy định về công sở (nhiệm vụ, quyền hạn cơ quan, phương tiện kỹ thuật, trụ sở, văn hóa công sở) do các quy định này thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật độc lập khác.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả đã phân loại và phân tích các công trình nghiên cứu trước đây theo ba nhóm chính:
-
Nhóm các công trình nghiên cứu chung về công vụ, công chức: Tiếp cận chủ yếu từ góc độ khoa học hành chính hoặc lý luận nhà nước và pháp luật nói chung, bao gồm các công trình tiêu biểu:
- Tô Tử Hạ (1998), "Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay", NXB Chính trị quốc gia;
- GS. Đoàn Trọng Truyến chủ biên (1999), "So sánh hành chính các nước ASEAN", NXB Chính trị quốc gia;
- TS. Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên (2002), "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia;
- PGS. Phạm Hồng Thái (2004), "Công vụ, công chức", NXB Tư pháp; và bài viết năm 2007 "Từ thầu công vụ nghĩ đến thầu chức vụ nhà nước", Tạp chí Dân chủ và pháp luật;
- PGS. Nguyễn Đăng Dung (2006), "Công chức và cải cách bộ máy hành chính nhà nước", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; và công trình năm 2005 "Sự hạn chế quyền lực nhà nước", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội;
- TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền (2004), "Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới", NXB Chính trị quốc gia;
- Ban Tổ chức Cán bộ - Chính phủ với các ấn phẩm năm 1994 ("Chế độ công chức và Luật Công chức các nước") và năm 1997 ("Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam");
- PGS. Nguyễn Phú Trọng và PGS. Trần Xuân Sầm (2001), "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", NXB Chính trị quốc gia;
- PGS. Đinh Văn Mậu (2005), "Bảo đảm về tổ chức - pháp lý đối với nền công vụ phục vụ nhà nước và xã hội", Tạp chí Nhà nước và pháp luật;
- TS. Ngô Thành Can (2003), "Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức", Tạp chí Quản lý nhà nước;
- PGS. Lê Chi Mai (2003), "Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia;
- ThS. Trần Quốc Hải (2005), "Về hoàn thiện thể chế công vụ và công chức ở nước ta hiện nay", Tạp chí Tổ chức nhà nước;
- Các nghiên cứu lý luận chung liên quan của TSKH. Lê Cảm (2001), TS. Hoàng Thị Kim Quế (2002), PGS. Trần Ngọc Đường (2004), PGS. Nguyễn Văn Mạnh (2005), GS.TSKH. Đào Trí Úc (2005), GS. Lê Minh Tâm (2006).
-
Nhóm các công trình nghiên cứu về công vụ, công chức từ góc độ pháp lý:
- Nguyễn Văn Tâm (1997), Luận án tiến sĩ luật học "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức ở nhà nước ta", tập trung vào pháp luật về công chức trước khi có Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, quan niệm công chức còn rộng và chưa đi sâu vào nội dung hoạt động công vụ;
- TS. Phạm Hồng Thái (1998), "Bàn về một số vấn đề trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức" và năm 2006 với bài viết "Bàn về việc hoàn thiện thể chế công vụ và xây dựng khung của Luật Công vụ Việt Nam", Tạp chí Quản lý nhà nước;
- PGS. Đinh Văn Mậu (2006), "Về bồi thường thiệt hại do công vụ gây ra", Tạp chí Quản lý nhà nước;
- ThS. Bùi Thị Đào (2006), "Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức", Tạp chí Luật học.
-
Nhóm các công trình nghiên cứu quốc tế:
- Burns, John P. và Bowornwathana, Bidthya (2001), "Civil Service Systems in Asia", Edward Elgar;
- Constance Horner và Patricia W. Sanders (1996), "Civil Service Reform", Brookings Institution Press;
- A.W. Rhodes (2003), "Decentralizing the Civil Service", McGraw Hill;
- J. Edward Kellough và Lloyd G. Nigro, "Civil Service Reform in the States".
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét từng khía cạnh hẹp hoặc tiếp cận dưới lăng kính quản lý hành chính học. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện từ góc độ khoa học pháp lý về cả hai phương diện "công vụ" và "công chức"; chưa làm rõ bản chất công vụ gắn với quyền lực nhà nước, các nguyên tắc vận hành công vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khi Việt Nam gia nhập WTO; đồng thời thiếu các luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ cho việc pháp điển hóa và xây dựng Luật Công vụ tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết Trung ương. Luận án vận dụng lý thuyết về quyền lực nhà nước và sự phân công quyền lực theo chiều ngang (lập pháp, hành pháp, tư pháp), kết hợp với luận điểm của Jean-Jacques Rousseau về tính trực thuộc của quyền hành pháp và nghĩa vụ của công chức với nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng định tính chuyên sâu của khoa học pháp lý, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để mổ xẻ các khái niệm, quy phạm, đánh giá cấu trúc và nội dung của chế định pháp luật;
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Vận dụng trong việc xây dựng các luận điểm lý thuyết về phân loại công vụ, xác định đối tượng điều chỉnh và đề xuất các giải pháp lập pháp;
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình tiến hóa của các văn bản pháp luật điều chỉnh công vụ, công chức qua các thời kỳ (Sắc lệnh 76-SL năm 1950, các văn bản giai đoạn 1960 - 1980, giai đoạn 1980 - 1991, và Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998/2003);
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với các quy chuẩn pháp lý và mô hình công vụ của các quốc gia như Nga, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản và các nước ASEAN;
- Phương pháp hệ thống và thống kê pháp lý: Tổng hợp, rà soát hệ thống quy phạm pháp luật thực định để phát hiện các khoảng trống, điểm mâu thuẫn, chồng chéo.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (Hiến pháp 1992, Bộ luật Hình sự 1999, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và sửa đổi năm 2003, các Nghị định của Chính phủ như Nghị định 35/2005/NĐ-CP, Nghị định 169/HĐBT, Quyết định 82/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ...); cùng các đạo luật, tài liệu chuyên khảo về công vụ của một số quốc gia trên thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về hoạt động công vụ, chủ thể công chức và bản chất của chế định pháp luật về công vụ, công chức.
Về khái niệm và đặc tính của công vụ, tác giả xác định công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do các công chức, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội. Luận án phân tích 9 đặc điểm cơ bản của công vụ:
- Mang tính quyền lực nhà nước (xuất hiện trực tiếp từ quyền lực nhà nước, qua ủy quyền hoặc hỗ trợ thực hiện quyền lực nhà nước);
- Có giá trị pháp lý bắt buộc đối với xã hội, được bảo đảm bằng sự cưỡng chế nhà nước;
- Có giới hạn xác định về không gian, thời gian, đối tượng tác động và chủ thể thực hiện;
- Là loại lao động đặc thù mang hàm lượng trí tuệ cao, mang tính điều chỉnh xã hội;
- Sử dụng thông tin làm phương tiện hoạt động chủ yếu;
- Là lao động gián tiếp, tạo ra các sản phẩm phi vật chất đặc thù (chính sách, quyết định pháp luật);
- Đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao, mang tính nghề nghiệp;
- Được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước, không vì mục tiêu lợi nhuận;
- Là một hiện tượng xã hội - tâm lý phức tạp, thể hiện ý chí nhà nước gắn với ý chí người thi hành.
Phân loại công vụ theo cấu trúc chiều ngang của quyền lực nhà nước gồm: công vụ lập pháp (phản ánh ý chí nhân dân, mang tính chính trị cao), công vụ hành pháp (thi hành pháp luật, tổ chức đời sống xã hội, mang tính dưới luật, chủ động, sáng tạo và có nguy cơ lạm quyền cần được kiểm soát), và công vụ tư pháp.
Về phân định chủ thể, luận án làm rõ ranh giới giữa bốn nhóm đối tượng: cán bộ nhà nước, cán bộ Đảng/đoàn thể, công chức và viên chức. Tác giả khẳng định công chức chỉ tồn tại trong bộ máy nhà nước.
| Tiêu chí |
Cán bộ nhà nước |
Cán bộ Đảng, đoàn thể |
Công chức |
Viên chức |
| Cơ quan công tác |
Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước |
Cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội |
Cơ quan nhà nước (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) |
Đơn vị sự nghiệp, bộ máy phục vụ của Đảng/đoàn thể |
| Hình thức hình thành |
Bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo |
Bầu cử, bổ nhiệm theo điều lệ tổ chức |
Tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ thường xuyên |
Tuyển dụng bằng hợp đồng làm việc |
| Tính chất hoạt động |
Quyền lực nhà nước, lãnh đạo, quản lý |
Phục vụ tổ chức chính trị, không mang quyền lực nhà nước |
Quyền lực nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ |
Cung cấp dịch vụ công, mang tính phục vụ |
| Cơ sở điều chỉnh |
Pháp luật nhà nước |
Điều lệ, quy chế nội bộ của tổ chức |
Chế định pháp luật công vụ, công chức |
Pháp luật về viên chức, chế độ hợp đồng |
| Nguồn chi trả |
Ngân sách nhà nước |
Ngân sách nhà nước hoặc nguồn thu của tổ chức |
Ngân sách nhà nước |
Ngân sách nhà nước, nguồn thu sự nghiệp hợp pháp |
Về chế định pháp luật công vụ, công chức, luận án xác định đây là một chế định của ngành Luật Hành chính, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước với đội ngũ công chức trong quá trình thực hiện công vụ. Đối tượng điều chỉnh gồm 4 nhóm quan hệ xã hội cơ bản:
- Quan hệ về xác lập công vụ (thời điểm bắt đầu, nguyên tắc, trình tự);
- Quan hệ về tuyển dụng công chức (hình thức thi tuyển, điều kiện, nội dung, thủ tục);
- Quan hệ về tập sự công vụ (thời gian, nội dung, quyền và nghĩa vụ);
- Quan hệ về quản lý, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm công chức.
Chương 2: Thực trạng nội dung và hình thức của chế định pháp luật về công vụ, công chức ở nước ta từ 1998 đến nay
Chương 2 đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh công vụ, công chức từ thời điểm ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi năm 2003) đến năm 2008.
Về nội dung, luận án khảo sát 10 nhóm quy định:
- Quy định về nguyên tắc cơ bản của công vụ: Chưa thể chế hóa đầy đủ các nguyên tắc của nền hành chính phục vụ, tính công khai, minh bạch và tính chịu trách nhiệm trong kinh tế thị trường;
- Quy định về phạm vi cán bộ, công chức: Việc gộp chung cán bộ bầu cử, công chức quản lý hành chính, viên chức sự nghiệp và người làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội vào khái niệm "cán bộ, công chức" làm mất đi tính đặc thù của công vụ nhà nước;
- Quy định về tuyển dụng và tập sự: Hình thức thi tuyển chưa thực sự cạnh tranh, nội dung thi nặng về lý thuyết, chưa đánh giá kỹ năng thực thi;
- Quy định về quản lý, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm: Còn mang tính cào bằng, tiêu chí đánh giá chung chung, thiếu định lượng;
- Quy định về đào tạo, bồi dưỡng: Chưa gắn chặt chẽ giữa đào tạo với quy hoạch và vị trí việc làm;
- Quy định về quyền và nghĩa vụ: Chưa tương xứng giữa quyền hạn, nghĩa vụ và chế độ đãi ngộ;
- Quy định về khen thưởng;
- Quy định về kỷ luật: Trình tự xử lý còn rườm rà, thiếu tính răn đe đối với các vi phạm trách nhiệm công vụ;
- Quy định về xác lập, chấm dứt công vụ;
- Quy định về đạo đức công vụ: Mới dừng lại ở các quy định mang tính hiệu triệu, thiếu chế tài cụ thể.
Về hình thức, chế định pháp luật về công vụ, công chức thể hiện sự phân tán, hiệu lực pháp lý chưa cao: văn bản quy định chủ yếu ở cấp Pháp lệnh và Nghị định của Chính phủ, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, nhiều quy định dưới luật mâu thuẫn với Pháp lệnh, làm giảm hiệu lực thi hành.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức
Chương 3 trình bày các căn cứ xác định nhu cầu, phương hướng và 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nhu cầu hoàn thiện chế định pháp luật: Bắt nguồn từ 5 đòi hỏi khách quan: (1) Đáp ứng sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập WTO; (2) Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân; (3) Yêu cầu cải cách hành chính dân chủ, phục vụ nhân dân; (4) Đòi hỏi xây dựng đội ngũ công chức chính quy, chuyên nghiệp; (5) Khắc phục các mâu thuẫn, khoảng trống nội tại của hệ thống pháp luật thực định.
- Phương hướng hoàn thiện:
- Xây dựng chế định pháp luật toàn diện, thống nhất và đồng bộ;
- Xây dựng chế định pháp luật phù hợp với nền công vụ phục vụ nhân dân một cách chính quy, chuyên nghiệp;
- Đảm bảo tính dân chủ, minh bạch và cạnh tranh trong hoạt động công vụ nhà nước.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Thể chế hóa đầy đủ các nguyên tắc hoạt động công vụ trong nền kinh tế thị trường;
- Ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh chuyên biệt theo từng nhóm đối tượng "cán bộ", "công chức", "viên chức", kết hợp giữa mô hình quản lý theo "chức nghiệp" và mô hình quản lý theo "vị trí việc làm";
- Quy định cụ thể trách nhiệm trong công vụ, trách nhiệm giải trình và cơ chế bồi thường thiệt hại do công vụ gây ra;
- Tiến hành pháp điển hóa chế định pháp luật về công vụ, công chức; xây dựng và ban hành Luật Công vụ cùng Quy chế đạo đức công vụ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Hệ thống hóa và bổ sung các vấn đề lý luận về công vụ, công chức và chế định pháp luật công vụ, công chức; xây dựng định nghĩa khoa học về "công vụ", "công chức", "cán bộ", "viên chức"; xác định rõ công chức chỉ tồn tại trong bộ máy nhà nước, hoạt động gắn liền với quyền lực công;
- Về thực tiễn: Đánh giá toàn diện thực trạng nội dung và hình thức của chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam giai đoạn 1998 - 2008; chỉ ra sự bất hợp lý của việc điều chỉnh chung một quy chế cho các chủ thể có tính chất hoạt động khác nhau;
- Về giải pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để tách biệt sự điều chỉnh pháp luật đối với công chức nhà nước và viên chức sự nghiệp; đề xuất mô hình kết hợp giữa hệ thống chức nghiệp và việc làm; kiến nghị lộ trình pháp điển hóa để ban hành Luật Công vụ tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án không nghiên cứu các quy định về công sở (tổ chức bộ máy, trụ sở, phương tiện vật chất kỹ thuật và văn hóa công sở) do giới hạn phạm vi của chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra các định hướng nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bồi thường nhà nước trong thi hành công vụ, hoàn thiện quy chế pháp lý cho viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, và các tiêu chuẩn định lượng trong đánh giá hiệu quả thực thi công vụ theo vị trí việc làm.
Giá trị tham khảo
Công trình có giá trị tham khảo đối với:
- Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập của giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật, Quản trị công, Hành chính học tại các cơ sở đào tạo luật và hệ thống trường bồi dưỡng cán bộ, công chức;
- Cán bộ thực tiễn: Hỗ trợ những người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý nhân sự trong việc nhận thức đúng các chuẩn mực công vụ, phân định thẩm quyền và trách nhiệm công vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa như thế nào về công chức?
Luận án định nghĩa: Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước Việt Nam (ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, ở trong nước hoặc ngoài nước), được xếp vào một ngạch công chức, có tính chuyên nghiệp, mỗi ngạch có chức danh, tiêu chuẩn riêng, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
2. Tác giả nêu ra những đặc điểm cơ bản nào của hoạt động công vụ?
Tác giả xác định 9 đặc điểm: (1) mang tính quyền lực nhà nước; (2) có giá trị pháp lý bắt buộc; (3) có giới hạn không gian, thời gian, đối tượng, chủ thể; (4) là lao động đặc thù mang hàm lượng trí tuệ cao; (5) sử dụng thông tin làm phương tiện chủ yếu; (6) là lao động gián tiếp tạo ra sản phẩm phi vật chất; (7) đòi hỏi chuyên môn hóa cao; (8) bảo đảm bằng ngân sách nhà nước, không vì mục tiêu lợi nhuận; (9) là hiện tượng xã hội - tâm lý phức tạp.
3. Vì sao luận án đề xuất tách nhóm người làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội ra khỏi phạm vi công chức?
Tác giả lý giải rằng hoạt động của những người phục vụ trong tổ chức chính trị, chính trị - xã hội không gắn với quyền lực nhà nước (trừ trường hợp được ủy quyền), được thực hiện trên cơ sở điều lệ và quy chế nội bộ của tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản. Việc dùng pháp luật nhà nước điều chỉnh chung cho nhóm này sẽ can thiệp sâu không cần thiết vào nội bộ đoàn thể và dẫn đến tình trạng "nhà nước hóa" các tổ chức xã hội.
4. Luận án đề xuất mô hình quản lý công chức nào cho Việt Nam?
Luận án đề xuất kết hợp giữa mô hình "chức nghiệp" (bảo đảm tính ổn định, hệ thống ngạch bậc, thâm niên) và mô hình "việc làm" (chú trọng tiêu chuẩn vị trí công tác, tính cạnh tranh, năng lực thực tế và kết quả hoàn thành nhiệm vụ).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Thanh Cường là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế định pháp luật công vụ, công chức dưới góc độ khoa học Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Công trình đã luận giải toàn diện bản chất quyền lực của công vụ, xác lập cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chuyên biệt đối với công chức nhà nước và phân định rõ ràng với cán bộ đoàn thể và viên chức sự nghiệp. Các phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất, đặc biệt là kiến nghị ban hành Luật Công vụ và kết hợp mô hình chức nghiệp với việc làm, cung cấp các luận cứ khoa học cho tiến trình cải cách thể chế công vụ tại Việt Nam.