Đại học Quốc gia Hà Nội: Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ và công chức ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ công chức ở việt nam hiện nay luận án ts luật 62 38 01 01, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2008

216
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

1.1.1. Quan niệm, đặc điểm và phân loại công vụ

1.1.2. Quan niệm về cán bộ, công chức, viên chức

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

1.2.1. Quan niệm về chế định pháp luật công vụ, công chức

1.2.2. Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của chế định pháp luật về công vụ, công chức

1.2.3. Mối quan hệ của chế định pháp luật về công vụ, công chức với một số chế định pháp luật khác và vai trò của nó trong quá trình cải cách nền hành chính nhà nước

1.2.4. Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định pháp luật về công vụ, công chức

1.2.5. Chế định pháp luật về công vụ, công chức ở một số nước và những vấn đề có thể vận dụng ở Việt Nam

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA TỪ 1998 ĐẾN NAY

2.1. THỰC TRẠNG NỘI DUNG CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

2.1.1. Những quy định về nguyên tắc cơ bản của công vụ

2.1.2. Những quy định về phạm vi cán bộ, công chức

2.1.3. Những quy định về tuyển dụng cán bộ, công chức và tập sự công vụ

2.1.4. Những quy định về quản lý, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, công chức

2.1.5. Những quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.1.6. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức

2.1.7. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ KHEN THƯỞNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

2.1.8. Những quy định về kỷ luật cán bộ, công chức

2.1.9. Những quy định về xác lập, chấm dứt công vụ

2.1.10. Những quy định về đạo đức công vụ

2.2. THỰC TRẠNG HÌNH THỨC CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC HIỆN NAY

2.2.1. Hình thức thể hiện của chế định pháp luật về công vụ, công chức

2.2.2. Nhận xét về hình thức của chế định pháp luật về công vụ, công chức

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

3.1. NHU CẦU HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

3.1.1. Đáp ứng sự phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế của Việt Nam

3.1.2. Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công dân ở Việt Nam

3.1.3. Cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, phục vụ nhân dân, dân tộc

3.1.4. Xây dựng đội ngũ công chức chính quy, chuyên nghiệp

3.1.5. Những hạn chế của chế định pháp luật về công vụ, công chức đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện chế định này

3.2. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

3.2.1. Xây dựng chế định pháp luật về công vụ, công chức toàn diện, thống nhất, đồng bộ

3.2.2. Xây dựng chế định pháp luật phù hợp với nền công vụ phục vụ nhân dân một cách chính quy, chuyên nghiệp

3.2.3. Đảm bảo dân chủ, minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động công vụ nhà nước

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

3.3.1. Nhận thức, thể chế hoá các nguyên tắc của hoạt động công vụ

3.3.2. Ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh chuyên biệt phù hợp với tính chất hoạt động của các nhóm đối tượng "cán bộ", "công chức", "viên chức", kết hợp giữa mô hình "chức nghiệp" và mô hình "việc làm"

3.3.3. Ban hành các quy phạm pháp luật trong đó quy định rõ, cụ thể trách nhiệm trong công vụ, trách nhiệm giải trình

3.3.4. Tổ chức tiến hành pháp điển hoá chế định pháp luật về công vụ, công chức, tiến hành xây dựng, ban hành Luật Công vụ, Quy chế đạo đức công vụ

3.4. Kết luận chương 3

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Công Vụ Công Chức Việt Nam Hiện Nay

Pháp luật về công vụcông chức ở Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Từ năm 1986, Việt Nam đã từng bước đổi mới hệ thống pháp luật, trong đó có lĩnh vực công vụ, công chức. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ chưa cao, một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất, kỷ luật hành chính lỏng lẻo. Nguyên nhân một phần do chế định pháp luật chưa theo xu hướng điều chỉnh chuyên biệt, nhiều nội dung quan trọng chưa được pháp luật điều chỉnh phù hợp với nền kinh tế thị trường. Theo Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: "Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức".

1.1. Lịch Sử Phát Triển Pháp Luật Công Vụ Công Chức

Pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những quy định sơ khai sau Cách mạng Tháng Tám đến các văn bản pháp luật hiện đại hơn. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn nhiều bất cập, đòi hỏi sự tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Theo PGS. Phạm Hồng Thái, cần có cái nhìn tổng quan về quá trình phát triển này để có những điều chỉnh phù hợp. Cần có một hệ thống cơ sở pháp lý thực sự đầy đủ, hoàn thiện để xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có cả năng lực và đạo đức, thực thi công vụ một cách chuyên nghiệp, chính quy, có hiệu quả.

1.2. Vai Trò Của Pháp Luật Công Vụ Trong Cải Cách Hành Chính

Pháp luật về công vụ đóng vai trò then chốt trong quá trình cải cách hành chính, giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc hoàn thiện pháp luật về công vụ là một trong những giải pháp quan trọng để đổi mới, nâng cao chất lượng công vụ, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thoả đáng và công bằng."

II. Vấn Đề Thách Thức Pháp Luật Công Vụ Công Chức Hiện Nay

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, pháp luật về công vụcông chức vẫn đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức. Các quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, chưa phù hợp với thực tiễn. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Kỷ luật, kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém. Một trong những nguyên nhân quan trọng là chế định pháp luật về công vụ, công chức chưa điều chỉnh chuyên biệt, nhiều nội dung quan trọng chưa được pháp luật điều chỉnh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.

2.1. Thiếu Đồng Bộ Trong Các Văn Bản Pháp Luật Về Công Vụ

Sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật là một trong những thách thức lớn nhất. Quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức với các Nghị định của Chính phủ hiện hành có nhiều điểm chưa thống nhất. Nhiều vấn đề pháp lý về công chức chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ, như tiêu chuẩn ngạch, bậc công chức mới chủ yếu quy định về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, chưa có các tiêu chuẩn về kỹ năng quản lý hành chính nhà nước, kỹ năng vận dụng pháp luật.

2.2. Yêu Cầu Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Pháp Luật Công Vụ

Nền kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu mới đối với công vụ, như tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được những yêu cầu này. Những yêu cầu của nền kinh tế thị trường đối với công vụ như: công khai, minh bạch, bổn phận, nghĩa vụ trong thực thi công vụ chưa được xác định cụ thể. Vì vậy, chưa có một hệ thống cơ sở pháp lý thực sự đầy đủ, hoàn thiện để xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có cả năng lực và đạo đức, thực thi công vụ một cách chuyên nghiệp, chính quy, có hiệu quả.

2.3. Vấn Đề Đạo Đức Công Vụ Và Phòng Chống Tham Nhũng

Vấn đề đạo đức công vụphòng chống tham nhũng là một thách thức lớn trong lĩnh vực công vụ. Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của người dân vào bộ máy nhà nước. Cần có những quy định pháp luật chặt chẽ hơn để kiểm soát quyền lực, tăng cường trách nhiệm giải trình của công chức, và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Công Vụ Công Chức Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật về công vụcông chức, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Cần xây dựng chế định pháp luật về công vụ, công chức toàn diện, thống nhất, đồng bộ. Xây dựng chế định pháp luật phù hợp với nền công vụ phục vụ nhân dân một cách chính quy, chuyên nghiệp. Đảm bảo dân chủ, minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động công vụ nhà nước. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các nhà khoa học, và người dân trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.

3.1. Xây Dựng Luật Công Vụ Để Thống Nhất Pháp Luật

Việc ban hành Luật Công vụ là một giải pháp quan trọng để thống nhất và hệ thống hóa các quy định pháp luật về công vụcông chức. Luật Công vụ cần quy định rõ về các nguyên tắc của công vụ, quyền và nghĩa vụ của công chức, trách nhiệm giải trình, và các biện pháp kiểm soát quyền lực. Tổ chức tiến hành pháp điển hoá chế định pháp luật về công vụ, công chức, tiến hành xây dựng, ban hành Luật Công vụ, Quy chế đạo đức công vụ.

3.2. Phân Loại Cán Bộ Công Chức Viên Chức Rõ Ràng

Cần có sự phân loại rõ ràng giữa cán bộ, công chức, và viên chức để có những quy định pháp luật phù hợp với từng đối tượng. Cần ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh chuyên biệt phù hợp với tính chất hoạt động của các nhóm đối tượng "cán bộ", "công chức", "viên chức", kết hợp giữa mô hình "chức nghiệp" và mô hình "việc làm".

3.3. Tăng Cường Trách Nhiệm Giải Trình Của Công Chức

Trách nhiệm giải trình là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của công chức. Cần có những quy định pháp luật cụ thể về trách nhiệm giải trình của công chức, và các biện pháp xử lý đối với những trường hợp vi phạm. Ban hành các quy phạm pháp luật trong đó quy định rõ, cụ thể trách nhiệm trong công vụ, trách nhiệm giải trình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Đánh Giá Tác Động Pháp Luật Công Vụ

Việc hoàn thiện pháp luật về công vụcông chức cần gắn liền với việc ứng dụng thực tiễn và đánh giá tác động của pháp luật. Cần có những nghiên cứu, khảo sát để đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật, và có những điều chỉnh phù hợp. Cần có sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia, và người dân trong quá trình đánh giá tác động của pháp luật.

4.1. Đánh Giá Tác Động Của Luật Công Vụ Mới Ban Hành

Sau khi Luật Công vụ được ban hành, cần có những đánh giá tác động để xem xét hiệu quả của Luật trong thực tiễn. Cần đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của Luật, và có những điều chỉnh phù hợp để Luật thực sự đi vào cuộc sống. Cần đánh giá tác động của pháp luật công vụpháp luật công chức.

4.2. So Sánh Pháp Luật Công Vụ Việt Nam Với Các Nước

Việc so sánh pháp luật về công vụ của Việt Nam với các nước trên thế giới giúp chúng ta học hỏi kinh nghiệm, và có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Cần so sánh pháp luật về công vụ của Việt Nam với các nước có nền hành chính phát triển, và các nước trong khu vực. Cần so sánh pháp luật công vụ Việt Nam với các nước.

4.3. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Cải Cách Công Vụ Công Chức

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cải cách công vụ, công chức là một việc làm cần thiết để có những bài học quý giá cho Việt Nam. Cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, về phòng chống tham nhũng, và về nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về công vụkinh nghiệm quốc tế về công chức.

V. Xu Hướng Phát Triển Pháp Luật Công Vụ Công Chức Tương Lai

Pháp luật về công vụcông chức cần tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tương lai. Cần có những dự báo về xu hướng phát triển của công vụ, và có những điều chỉnh pháp luật phù hợp. Cần xây dựng một nền công vụ hiện đại, chuyên nghiệp, và phục vụ nhân dân.

5.1. Đổi Mới Pháp Luật Công Vụ Theo Hướng Hiện Đại

Cần có những đổi mới pháp luật công vụ theo hướng hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Cần áp dụng những công nghệ mới vào hoạt động công vụ, và xây dựng một nền công vụ điện tử. Cần đổi mới pháp luật công vụđổi mới pháp luật công chức.

5.2. Tăng Cường Tính Chuyên Nghiệp Của Công Chức

Cần tăng cường tính chuyên nghiệp của công chức thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, và kỹ năng quản lý. Cần xây dựng một đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, và có năng lực đáp ứng yêu cầu của công việc. Cần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, công chức tận tụy, công chức sáng tạo, công chức hiệu quả, công chức phục vụ nhân dân.

5.3. Pháp Luật Công Vụ Phục Vụ Hội Nhập Quốc Tế

Pháp luật về công vụ cần được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Cần đảm bảo tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước trên thế giới, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công vụ. Cần xây dựng công vụ liêm chính.

VI. Kết Luận Hoàn Thiện Pháp Luật Công Vụ Vì Dân Chủ Phát Triển

Hoàn thiện pháp luật về công vụcông chức là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh. Cần có sự nỗ lực của toàn xã hội để hoàn thành nhiệm vụ này, và xây dựng một nền công vụ phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Pháp Luật Công Vụ Trong Xây Dựng Nhà Nước

Pháp luật về công vụ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh. Một hệ thống pháp luật công vụ hoàn thiện sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả, và trách nhiệm. Cần xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công dân.

6.2. Pháp Luật Công Vụ Góp Phần Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Một nền công vụ hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cần xây dựng một đội ngũ công chức có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, và có tinh thần phục vụ nhân dân để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Cần đáp ứng sự phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.

6.3. Hướng Tới Nền Công Vụ Phục Vụ Nhân Dân Dân Chủ Minh Bạch

Mục tiêu cuối cùng của việc hoàn thiện pháp luật về công vụ là xây dựng một nền công vụ phục vụ nhân dân, dân chủ, minh bạch, và trách nhiệm. Cần đảm bảo quyền tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, và tạo điều kiện cho người dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Cần cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, phục vụ nhân dân.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ công chức ở việt nam hiện nay luận án ts luật 62 38 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chế định pháp luật về công vụ, công chức là một trong các chế định quan trọng điều chỉnh tổ chức thực hiện công vụ, quan hệ giữa nhà nước với công chức. Vì vậy, để có cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức, chương này tập trung giải quyết các vấn đề có tính lý luận về công vụ, công chức để làm sáng tỏ bản chất của đối tượng điều chỉnh của chế định pháp luật; nghiên cứu về chế định pháp luật công vụ, công chức nhằm làm rõ đối tượng, phương pháp điều chỉnh của chế định, công chức cũng như những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định pháp luật về công vụ, công chức. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Để làm rõ nội dung của chế định pháp luật về công vụ, công chức, trước hết cần thiết phải làm sáng tỏ bản chất của các quan hệ xã hội mà chế định này điều chỉnh, vì vậy, trong nội dung này, luận án tập trung đề cập đến các vấn đề có tính lý luận về công vụ, công chức. Quan niệm, đặc điểm và phân loại công vụ Quan niệm "công vụ" được xem xét đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau.

Trong khoa học luật học, "công vụ" thường được tiếp cận từ hai góc độ: Thứ nhất, công vụ là loại hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và thứ hai, là một chế định quan trọng của Luật Hành chính- chế định pháp luật về công vụ, công chức (được đề cập ở phần 1. Công vụ trong ngôn ngữ tiếng Việt được hiểu theo nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau. Theo một nghĩa phổ thông, "công vụ" là “các việc công” {102- tr278}. Các việc công này được thực hiện vì lợi chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nước.

Theo nghĩa này, công vụ có phạm vi rất rộng. Ở một phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong hoạt động quản lý nhà nước, do đó có quan niệm cho rằng công vụ là “chức năng tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước nhằm ổn định, phát triển xã hội và đời sống công dân thông 16 z qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên nhà nước” {98- tr135}. Tương tự, có quan niệm coi công vụ là “một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý, có tính thường xuyên, chuyên nghiệp được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước, chủ yếu do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành và được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước, thực hiện các chức năng quản lý nhà nước nhằm ổn định, phát triển xã hội và đời sống nhân dân”{54- tr179}. Cũng có quan điểm cho rằng “Công vụ là sự phục vụ công việc của nhà nước”{83- tr8}.

Công vụ còn được hiểu là: Một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước hoặc nhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội {100- tr24}. Phân tích từ góc độ ngôn ngữ thì: Thuật ngữ công vụ được tạo bởi hai thành tố "công" và "vụ". Chữ "công" theo gốc từ Hán- Việt có hai nghĩa là "công cộng", "công quyền", còn "vụ" có nghĩa là việc làm. Với ý nghĩa về mặt ngôn ngữ như vậy có thể hiểu công vụ là những công việc vì lợi ích cộng đồng, xã hội và mang tính quyền lực nhà nước{84- tr17}.

Hiểu một cách khái quát, công vụ là "Hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp là một dạng lao động quyền lực được diễn đạt bằng thuật ngữ hoạt động công vụ, nói gọn là phục vụ nhà nước" {62- tr05}. Trong tác phẩm “Công vụ, công chức Nhà nước” PGS. Phạm Hồng Thái đã giới thiệu một số quan điểm về công vụ: Để nhận thức thực tiễn về công vụ, cần phải xem xét nó ở những phạm vi, cấp độ khác nhau: Thứ nhất, công vụ được hiểu theo nghĩa rộng, đó là các công việc nhà nước, các hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, những người làm hợp đồng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước và cả hoạt 17 z động của các đơn vị sự nghiệp (bệnh viện, trường hợp, viện nghiện cứu của nhà nước, cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình,…), các tổ chức kinh tế của nhà nước và các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân, các cơ quan, đơn vị Công an nhân dân… Thứ hai, công vụ được hiểu là hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức, những người làm hợp đồng trong mọi cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước và cả các sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sỹ, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị quân đội, các sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp, binh sỹ trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân… Thứ ba, công vụ được hiểu là hoạt động nhà nước của công chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của nhà nước và lực lượng vũ trang.Thứ tư, công vụ được chỉ là hoạt động của công chức trong các cơ quan nhà nước…Như vậy, có thể nói tồn tại nhiều quan niệm, ở các mức độ, cấp độ khác nhau về công vụ, nhưng điểm chung nhất là "hoạt động công vụ đều gắn với nhà nước, quyền lực và pháp luật và tính chất phục vụ xã hội, cộng đồng của công vụ. Một số nước trên thế giới cũng đã có khái niệm pháp lý về công vụ.

Ví dụ, Luật Liên bang về những cơ sở công vụ của Liên bang Nga định nghĩa: “Công vụ trong Luật Liên bang Nga này được hiểu là hoạt động có tính chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi thẩm quyền của các cơ quan nhà nước” {75- tr467}. Thực tiễn pháp lý ở Việt Nam cho thấy, pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý về công vụ. Ví dụ, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam (năm 1999), quy định tội danh “Làm chết người trong khi thi hành công vụ”- Điều 97; “Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ:- Điều 107; “Tội chống người thi hành công vụ”- Điều 257.Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật Hình sự không đưa ra định nghĩa “công vụ” là gì từ góc độ của Luật Hình sự. Vì vậy, trên thực tiễn xét xử của Toà án, “người thi hành công vụ” được hiểu theo nghĩa tương đối rộng, bao gồm cả những người đang 18 z thực hiện các công việc nhà nước, công việc của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội.

Trong Luật Hành chính, thuật ngữ “công vụ” được sử dụng rất phổ biến, nhưng cũng chưa có định nghĩa pháp lý về “công vụ”. Ví dụ: Điều 1, khoản 1, điểm c của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 quy định: “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên”. Trong trường hợp này, công vụ được hiểu theo nghĩa rất hẹp, đó là những công việc có tính chất nhà nước trong phạm vi quản lý hành chính nhà nước. Như vậy, có quan niệm rộng, hẹp về công vụ.

Nhưng dù tiếp cận từ góc độ nào thì công vụ luôn phải là những công việc xuất phát từ quyền lực nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, những công việc nào không xuất phát từ quyền lực nhà nước thì sẽ không được gọi là công vụ. Đây là xuất phát điểm để làm sáng tỏ bản chất của công vụ. Quyền lực nhà nước với tính cách là bộ phận cơ bản của quyền lực chính trị, có thể hiểu đó là khả năng của nhà nước áp đặt ý chí của mình lên toàn xã hội và buộc xã hội phục tùng và được bảo đảm bằng sức mạnh của nhà nước. Trong quyền lực nhà nước thì: Bộ phận cấu thành tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí giai cấp cầm quyền được chính thức hoá, thể chế hoá.

Ý chí đó gắn chặt quyền lực với chủ thể quyền lực, biến sức mạnh quyền lực thành những yếu tố tác động hiện thực của sự tồn tại xã hội{64- tr15}. Để khả năng áp đặt ý chí của nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị đi vào thực tế, quyền lực nhà nước phải được tổ chức chặt chẽ, thực hiện những hoạt động nhất định nhằm hiện thực hoá quyền lực nhà nước- đó chính là công vụ. Như vậy, công vụ cùng với các yếu tố vật chất khác (như bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật…) tạo ra sức mạnh vật chất, sức mạnh thực tế của quyền lực nhà nước, biến quyền lực nhà nước từ dạng “khả năng” thành “hiện thực”. Công vụ không chỉ là những hoạt động có ý chí đơn thuần của các chủ thể thực hiện, còn 19 z có những đặc tính riêng biệt, cho phép phân biệt công vụ với các loại hoạt động khác.

Công vụ có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, công vụ mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước trong công vụ được biểu hiện ở các điểm: - Công vụ xuất hiện trực tiếp từ quyền lực nhà nước và nhằm hiện thực hoá quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật; - Hoặc là hoạt động đó, tuy không xuất phát trực tiếp từ quyền lực nhà nước nhưng được thực hiện trên cơ sở uỷ quyền của Nhà nước cho một tổ chức xã hội hay một cá nhân công dân nào đó theo các trường hợp do luật định (Ví dụ: ở nước ta, các tổ chức chính trị- xã hội được Nhà nước uỷ quyền cùng với một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch theo quy định của Điều 2, khoản 2, điểm d, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996, sửa đổi bổ sung ngày 16/12/2002). Thực tiễn cho thấy, thông thường việc ủy quyền được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật (như việc đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở được tham gia vào Hội đồng kỷ luật công chức- Điều 11, khoản 2, điểm b, Nghị định 35/2005/NĐ-CP về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức) hoặc trong một hợp đồng như việc các vệ sĩ của một công ty bảo vệ tham gia bảo vệ các đoàn khách của nhà nước nước ngoài khi đến thăm Việt Nam).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về công vụ và công chức ở Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những vấn đề hiện tại trong hệ thống pháp luật liên quan đến công vụ và công chức tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của công chức. Những điểm chính bao gồm việc xác định rõ ràng vai trò của công chức, cải thiện quy trình tuyển dụng và đào tạo, cũng như tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong công vụ.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Ý thức pháp luật của công chức hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, nơi bàn về nhận thức pháp luật của công chức trong bối cảnh hiện tại. Ngoài ra, tài liệu Luận văn các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức của công chức tại sở tài chính tp hcm sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến việc chia sẻ tri thức trong môi trường công chức. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ văn hóa công vụ của công chức cấp xã trên địa bàn thành phố long xuyên tỉnh an giang sẽ cung cấp cái nhìn về văn hóa công vụ tại cấp xã, một khía cạnh quan trọng trong việc thực hiện công vụ hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực công vụ và công chức tại Việt Nam.