Chương 1: Những vấn đề lý luận về mang thai hộ. học Chương 2: Thực trạng pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MANG THAI HỘ 1.
Khái niệm chung về mang thai hộ 1. Các khái niệm liên quan đến “mang thai hộ” “Mang thai hộ” dưới góc nhìn xã hội (chưa có Luật HN&GĐ năm 2014) Ở Việt Nam, trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành thì các khái niệm “mang thai hộ”, “chửa hộ”, “đẻ thuê” thường bị đánh đồng với nhau, nội dung và ý nghĩa của chúng không có sự tách biệt nhất định. Và phần đông mọi người hiểu “mang thai hộ” giống “đẻ thuê” là khi người đàn ông (người chồng) quan hệ trực tiếp, không sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản với một người phụ nữ (không phải là vợ) đến khi người phụ nữ này có thai và sinh con. Trong trường hợp này đứa trẻ sinh ra bằng tinh trùng của người đàn Khóa luận giáo dục học ông (người chồng) và noãn của người phụ nữ (không phải là vợ).
Cách hiểu này đã làm cho ý nghĩa của việc “mang thai hộ” trở nên sai lệch, trái với thuần phong mỹ tục và đi ngược lại với giá trị con người. “Mang thai hộ” dưới góc nhận định của các chuyên gia Theo ThS.BS Hồ Mạnh Tường, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu di truyền và Sức khỏe sinh sản, Đại học Quốc gia TPHCM, cho biết: “Mang thai hộ là phương pháp giải quyết vấn đề không thể có con ở người phụ nữ do tử cung nên cần nhờ đến tử cung của người khác. Đến nay, kỹ thuật này đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng nó đang là vấn đề gây tranh cãi giữa các trường phái tư tưởng, văn hóa khác nhau”.[34] Theo Tiến sĩ Luật học Nguyễn Văn Cừ, Phó giáo sư Trường Đại học Luật Hà Nội, trong bài viết “Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016, số 6 có đề cập:“Thuật ngữ “mang thai hộ” được định nghĩa là phương pháp hỗ trợ sinh sản áp dụng khi người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi đã 6 thực hiện kí thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con. Vì vậy, người mang thai hộ không có liên quan về di truyền với đứa trẻ mà mình nuôi dưỡng trong cơ thể và sinh ra đứa trẻ đó”.11] Trong bài viết “Một số vấn đề về thực hiện quy định của pháp luật hiện hành về mang thai hộ ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Nghề luật, Học viện Tư pháp, 2016, số 2, ThS.
Trần Đức Thắng có nêu quan điểm của mình như sau:“Mang thai hộ là một thỏa thuận dân sự hình thành trên cơ sở tự nguyện. Thỏa thuận mang thai hộ được xác lập giữa một cặp vợ chồng và người mang thai hộ, đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên”.58] “Mang thai hộ” dưới góc độ pháp lý Khoản 22 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 đưa ra khái niệm: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích Khóa luận giáo dục học thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”. Khi pháp luật thừa nhận việc mang thai hộ và định nghĩa rõ ràng nội hàm của mang thai hộ thì khái niệm mang thai hộ đã tách biệt và có nội dung hoàn toàn khác với “đẻ thuê”, “đẻ mướn”. Tức là, mang thai hộ bắt buộc phải là trứng của người vợ và tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng hiếm muộn, sau khi được TTTON thành phôi thì cấy vào tử cung của người mang thai hộ, khác hoàn toàn với việc đẻ thuê là người đẻ thuê giao phối trực tiếp với người chồng và không sử dụng bất kỳ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nào.
Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa “mang thai hộ” và “đẻ thuê”. Khái niệm “mang thai hộ” dưới góc nhìn của các chuyên gia dù là trong lĩnh vực y tế hay luật học thì đều có tính chất chuyên môn cao, dẫn đến khó 7 hiểu cho người đọc. Đối với khái niệm “mang thai hộ” trong Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra không chỉ cụ thể, hoàn chỉnh và dễ tiếp nhận cho người đọc mà còn thể hiện rõ nội dung mà pháp luật cho phép khi thực hiện hoạt động mang thai hộ, đó là: - Thứ nhất, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, người phụ nữ tự nguyện mang thai hộ cho cặp vợ chồng vô sinh không vì các giá trị vật chất, tiền bạc hay yếu tố kinh tế nào khác. - Thứ hai, phương pháp thực hiện mang thai hộ là kỹ thuật TTTON, tức là việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ nhờ mang thai hộ để người này mang thai và sinh con.
- Thứ ba, đối tượng được phép nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng hiếm muộn và mục đích của hoạt động mang thai hộ là mang tính nhân đạo, dành cho người phụ nữ không thể tự mình sinh con. Phụ nữ độc thân có thể Khóa luận giáo dục học xin tinh trùng và TTTON để có đứa con cùng huyết thống, tuy nhiên, pháp luật không thừa nhận phụ nữ độc thân không có khả năng mang thai và sinh con được nhờ mang thai hộ. Phân loại các hình thức mang thai hộ Hội thảo Tư pháp Quốc tế Hague (HCCH) được tổ chức tại Hà Lan vào năm 2012 rút ra kết luận: Các thiết chế trên thế giới quy định về hoạt động “mang thai hộ” đang được chia ra làm bốn nhóm: Nhóm nước chưa có quy định; nhóm nước phản đối; nhóm nước cho phép vì mục đích nhân đạo và nhóm các nước chấp thuận thương mại hóa [41]. Các quốc gia đã hợp pháp hóa việc mang thai hộ lại được chia ra làm hai nhóm nước: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Trong Luật HN&GĐ năm 2014 tại khoản 23 Điều 3 cũng phân ra hai hình thức là “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “mang thai hộ vì mục đích thương mại”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hoạt động này dưới góc độ nhân đạo. Cụ thể như sau: 8 a. Mang thai vì mục đích thƣơng mại Mang thai hộ vì mục đích thương mại là khi người phụ nữ chấp nhận mang thai cho bên thuê mang thai hộ rồi sinh con, sau khi trao đứa con lại cho bên nhờ mang thai hộ.
Người phụ nữ sẽ được bên nhờ mang thai hộ trả cho một khoản tiền hoặc sẽ đáp ứng bằng một lợi ích nào đó mà hai bên đã thỏa thuận trước đó. Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại. Việc mang thai hộ phải được tuân thủ chặt chẽ quy định tại các điều khoản của Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Khoản 23 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra khái niệm mang thai hộ vì mục đích thương mại như sau: “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi ích về kinh tế hoặc lợi ích khác”.
Khái niệm này đầy Khóa luận giáo dục học đủ và hoàn toàn đúng theo cách hiểu về việc thương mại hóa mang thai hộ ở một số quốc gia trên thế giới. Ở các quốc gia đó mang thai hộ giống như một dịch vụ tự do trao đổi giữa các bên với sự có “cầu” ắt có “cung”. Có thể thấy, việc mang thai hộ vì mục đích thương mại chính là một loại hợp đồng đẻ thuê. Sau khi giao kết hợp đồng, hai bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo bản hợp đồng đó.
Bản hợp đồng này là hợp đồng công việc cần làm với đối tượng trao đổi là đứa trẻ và lợi ích. Vô hình chung, bản hợp đồng đã khiến đứa trẻ trở thành hàng hóa có thể trao đổi. Điều này vi phạm quyền con người và việc trao đổi theo hợp đồng giống như việc mua bán trẻ con vi phạm luật quốc tế. Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam không cho phép việc mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Tuy nhiên, không ít trường hợp lợi dụng việc mang thai hộ để hưởng lợi về kinh tế, trái mục đích mà nhà nước hướng tới khi cho phép mang thai hộ. Thực tế cho thấy, việc mang thai hộ vì mục đích thương mại vốn dĩ đã tồn tại từ rất lâu dù vi phạm pháp luật và vấn đề đạo đức xã hội. Mang thai vì mục đích nhân đạo Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là khi người vợ, vì lý do sức khỏe, bệnh lý mà không thể mang thai nhưng có trứng; tham gia vào quan hệ mang thai hộ với mong muốn được làm mẹ và người phụ nữ được nhờ mang thai hoàn toàn tự nguyện để giúp đỡ người vợ thực hiện chức năng làm mẹ, tất nhiên có hoặc không có bồi dưỡng trong quá trình mang thai nhưng tuyệt nhiên không vì mục đích kiếm lợi. Khoản 22 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra khái niệm “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” (như đã trình bày ở phần trên).
Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định rất rõ các điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với các bên tham gia thoả thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cũng như các thủ tục pháp lý trong quá trình làm hồ sơ xin xét duyệt mang thai hộ. Pháp luật cho phép “mang thai hộ” đối với một số đối tượng đủ điều kiện để bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ chính đáng của những cặp vợ chồng Khóa luận giáo dục học vô sinh và người mang thai hộ không vì mục đích lợi nhuận. Bản chất “mang thai hộ” là hết sức nhân văn vì là sự giúp đỡ của một người phụ nữ này đối với người phụ nữ khác để sinh ra những đứa trẻ.