Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tình trạng vô sinh, hiếm muộn tại Việt Nam có xu hướng gia tăng dưới tác động của các yếu tố bệnh lý, áp lực tâm lý kéo dài, ô nhiễm môi trường, thói quen sinh hoạt và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Dẫn chứng từ nghiên cứu dịch tễ học trên phạm vi toàn quốc do Bệnh viện Phụ sản Trung ương phối hợp với Đại học Y Hà Nội thực hiện trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15–49 tuổi) tại 08 tỉnh đại diện cho 08 vùng sinh thái cho thấy: tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản tại Việt Nam là 7,7%, tương đương khoảng 700.000 đến 1.000.000 cặp vợ chồng gặp trở ngại trong việc sinh con tự nhiên.

Sự phát triển của y học hiện đại với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đã hỗ trợ nhiều trường hợp vô sinh. Tuy nhiên, đối với phụ nữ không có tử cung, bị dị dạng tử cung bẩm sinh, đã phẫu thuật cắt bỏ tử cung hoặc mắc bệnh nội khoa nặng không thể mang thai, việc có con mang dòng máu của chính mình chỉ có thể thực hiện thông qua kỹ thuật mang thai hộ. Trước đây, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ dù cho phép ứng dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng lại nghiêm cấm tuyệt đối hành vi mang thai hộ. Quy định cấm này đã dẫn tới sự hình thành của các dịch vụ mang thai hộ ngầm, hoạt động "đẻ thuê" thương mại hóa diễn biến tinh vi, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp pháp lý và đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của người mang thai, người nhờ mang thai cùng đứa trẻ sinh ra.

Trước yêu cầu thực tiễn quản lý xã hội, bảo vệ sức khỏe sinh sản và bảo đảm quyền con người, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), chính thức thừa nhận chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại. Đi kèm với luật là Nghị định số 10/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết điều kiện thực hiện kỹ thuật này. Việc nghiên cứu, rà soát tính đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành là cơ sở để tác giả Hồ Thị Phương Mai thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay".

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung phân tích, làm rõ nội dung các quy định về mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; chỉ ra thực trạng áp dụng pháp luật, nhận diện các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế cùng nguyên nhân cốt lõi; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ mang thai hộ tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về mang thai hộ: khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa xã hội và cơ sở lý luận - thực tiễn của việc hợp pháp hóa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh hoạt động mang thai hộ; đồng thời khảo cứu pháp luật quốc tế để rút ra kinh nghiệm đối chiếu.
  3. Khảo sát thực trạng thực hiện pháp luật mang thai hộ ở Việt Nam qua các giai đoạn, nhận diện nguyên nhân của các bất cập tồn tại và luận giải hệ thống giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về mang thai hộ; hệ thống quy phạm pháp luật của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định 10/2015/NĐ-CP, Nghị định 115/2015/NĐ-CP, các thông tư y tế); các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận mang thai hộ và các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Khóa luận nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam; kết hợp mở rộng so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới (Anh, Ukraine, Australia, Ấn Độ, Thái Lan, Pháp, Ý, Canada, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản).
    • Thời gian: Phân tích tiến trình lập pháp và thực tiễn áp dụng từ trước năm 2014 (thời kỳ thi hành Nghị định 12/2003/NĐ-CP) cho đến giai đoạn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đến năm 2020.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật thực định và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành:

  • Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều khoản định nghĩa tại Điều 3 và chế định mang thai hộ từ Điều 93 đến Điều 100); Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ; Nghị định số 12/2003/NĐ-CP; Nghị định số 98/2016/NĐ-CP; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định số 115/2015/NĐ-CP; Thông tư số 57/2015/TT-BYT và Thông tư số 34/2016/TT-BYT của Bộ Y tế; Quyết định số 7358/QĐ-BYT; Bộ luật Hình sự năm 2015; Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
  • Văn bản và điều ước quốc tế: Đạo luật số 94-653 năm 1994 của Pháp; Bộ luật Dân sự Quebec năm 1991; Luật về thụ tinh nhân tạo năm 1994 của Vương quốc Anh; Bộ luật Gia đình và Lệnh 771 của Bộ Y tế Ukraine; Đạo luật Mang thai hộ năm 2010 của Australia; Dự luật điều chỉnh công nghệ sinh sản có hỗ trợ năm 2010 của Ấn Độ; Đạo luật năm 2015 của Thái Lan; các kết luận từ Hội thảo Tư pháp Quốc tế La Hay (HCCH 2012).
  • Quan điểm học thuật: Các bài nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ (Tạp chí Luật học, 2016), ThS. Nguyễn Huy Cường (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2016), ThS.BS. Hồ Mạnh Tường (Nội san Y học sinh sản, 2014), ThS. Trần Đức Thắng (Tạp chí Nghề luật, 2016), cùng các luận văn thạc sĩ luật học của Bùi Quỳnh Hoa (2014), Phạm Thị Hương Giang (2015).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Sử dụng nhằm bóc tách ngữ nghĩa, nội dung, tính thống nhất, mức độ tương thích và tính khả thi của các điều khoản điều chỉnh quan hệ mang thai hộ trong hệ thống pháp luật hiện hành.
  • Phương pháp phân tích lịch sử: Theo dõi sự chuyển biến của chính sách pháp luật Việt Nam từ giai đoạn cấm hoàn toàn (Nghị định 12/2003/NĐ-CP), qua bước tổng kết 08 năm thi hành (năm 2011), đến việc thừa nhận chính thức trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu và đối chiếu mô hình quản lý mang thai hộ của các hệ thống pháp luật trên thế giới (mô hình cấm đoán, mô hình hợp pháp hóa có điều kiện nhân đạo, mô hình thương mại hóa) để làm rõ tính hợp lý trong sự lựa chọn của Việt Nam.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê, quy nạp: Thu thập số liệu điều trị thực tế tại các bệnh viện phụ sản lớn, số liệu dị tật bẩm sinh của Tổng cục Dân số nhằm chứng minh tính cần thiết của quy định sàng lọc y khoa và hỗ trợ sinh sản.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Y tế, số liệu thống kê lâm sàng tại Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Mỹ Đức, số liệu nhân khẩu học của Tổng cục Dân số và các công bố từ Liên đoàn Sinh sản Thế giới (IFFS).


Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về mang thai hộ

Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý và tính nhân văn của hiện tượng mang thai hộ:

  • Khái niệm: Tác giả bóc tách sự nhầm lẫn trong xã hội giữa "mang thai hộ" và "đẻ thuê". Trước năm 2014, xã hội thường đánh đồng mang thai hộ với việc người đàn ông quan hệ trực tiếp với một phụ nữ khác không phải vợ mình để sinh con mang yếu tố di truyền của người phụ nữ đó. Khóa luận khẳng định về mặt y học và pháp lý (khoản 22 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014), mang thai hộ bắt buộc phải sử dụng kỹ thuật TTTON: phôi thai được tạo thành từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng, sau đó cấy vào tử cung của người mang thai hộ. Người mang thai hộ hoàn toàn không có liên hệ huyết thống hay di truyền với đứa trẻ.
  • Phân loại mang thai hộ: Dẫn kết luận từ Hội thảo Tư pháp Quốc tế La Hay (HCCH 2012) và khảo sát năm 2013 của Liên đoàn Sinh sản Thế giới trên 105 quốc gia (với 62 nước phản hồi), tác giả khái quát các xu hướng pháp lý trên thế giới gồm: nhóm cấm tuyệt đối, nhóm chưa có quy định, nhóm cho phép vì mục đích nhân đạo và nhóm chấp nhận thương mại hóa. Luật pháp Việt Nam tại khoản 22, khoản 23 Điều 3 phân định rạch ròi hai hình thức: mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (được bảo hộ) và mang thai hộ vì mục đích thương mại (bị nghiêm cấm vì biến đứa trẻ thành đối tượng trao đổi thương mại, xâm phạm quyền con người).
  • Cơ sở lý luận và thực tiễn:
    • Cơ sở y học: Kỹ thuật TTTON tại Việt Nam đã phát triển ngang tầm khu vực. Đến thời điểm nghiên cứu, cả nước có 21 cơ sở đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được Bộ Y tế công nhận, trong đó có 05 cơ sở được phép thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gồm: Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Mỹ Đức, Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế. Chi phí điều trị TTTON ở Việt Nam khoảng 2.000 USD, chỉ bằng 1/4 đến 1/3 so với các nước trong khu vực và bằng 1/6 đến 1/8 so với Hoa Kỳ.
    • Cơ sở pháp lý: Tạo hành lang bảo vệ quyền trẻ em, xác định cha mẹ, giải quyết quan hệ nhân thân, tài sản và ngăn ngừa các tranh chấp phát sinh từ dịch vụ chui.
  • Ý nghĩa: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bảo đảm quyền con người, hiện thực hóa quyền làm cha mẹ theo khoản 4 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014; mang giá trị nhân văn qua sự tương trợ giữa phụ nữ với nhau; ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật; đồng thời duy trì nòi giống – chức năng cơ bản của gia đình đã được Ăngghen khẳng định trong học thuyết về tái sản xuất con người.

Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 cung cấp bức tranh đối sánh pháp luật quốc tế, lịch sử lập pháp và phân tích chi tiết hệ thống quy phạm hiện hành:

  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Các nước cấm: Đạo luật số 94-653 năm 1994 của Pháp và pháp luật Italy cấm mang thai hộ do ảnh hưởng quan điểm Công giáo về nguồn gốc tự nhiên của đứa trẻ; Bộ luật Dân sự Quebec năm 1991 (Điều 541) tuyên bố mọi thỏa thuận mang thai hộ đều vô giá trị; một số bang tại Mỹ (như Michigan) coi mang thai hộ thương mại là trọng tội, mức phạt lên tới 50.000 USD và tối đa 5 năm tù; Trung Quốc áp dụng rào cản hành chính về hộ khẩu (hukou) và "phí bảo trì xã hội"; Nhật Bản chưa có luật riêng và Tòa án tối cao xác định người sinh con là mẹ hợp pháp.
    • Các nước cho phép: Vương quốc Anh (Luật năm 1994) cho phép mang thai hộ nhân đạo, người mẹ đẻ thuê có 6 tuần phản đối việc xác định quyền làm cha mẹ trước Tòa án, nghiêm cấm môi giới trả tiền; Ukraine (Điều 123 Bộ luật Gia đình và Lệnh 771 Bộ Y tế) công nhận tên cha mẹ nhờ mang thai hộ ngay trên giấy khai sinh, loại bỏ hoàn toàn quyền của người mang thai hộ; Australia (Luật năm 2010); Ấn Độ (Luật năm 2010 khống chế độ tuổi 21–35, sinh nở không quá 5 lần và mang thai hộ không quá 3 lần/cặp); Thái Lan (Luật năm 2015 phạt tù đến 10 năm đối với bên thuê và 5 năm tù đối với bên môi giới thương mại).
  • Lịch sử pháp luật Việt Nam và số liệu thi hành: Sự kiện 03 em bé TTTON đầu tiên chào đời ngày 30/4/1998 tại Bệnh viện Từ Dũ đã mở đường cho ngành sản khoa. Nghị định 12/2003/NĐ-CP cấm mang thai hộ dẫn đến tình trạng cán bộ y tế chịu áp lực khi không thể phân biệt ca mang thai hộ với hỗ trợ sinh sản thông thường. Báo cáo năm 2011 tổng kết 08 năm thi hành Nghị định 12/2003/NĐ-CP đã kiến nghị bỏ quy định cấm. Khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực, Bệnh viện Từ Dũ triển khai kỹ thuật từ tháng 7/2015: tính đến thời điểm nghiên cứu đã thực hiện 117 ca (năm 2018 có 31 ca), 58 ca có thai (đạt tỷ lệ 50%), 33 trẻ chào đời an toàn. Tại Bệnh viện Mỹ Đức, đã có 04 trẻ chào đời và hoàn tất chuyển phôi cho 25 trường hợp.
Tiêu chí Bệnh viện Từ Dũ Bệnh viện Mỹ Đức
Thời điểm triển khai Tháng 7/2015 Sau khi luật hóa năm 2015
Số ca tiếp nhận/chuyển phôi 117 ca 25 ca hoàn tất chuyển phôi
Số ca có thai / tỷ lệ 58 ca (tỷ lệ 50%) Đang cập nhật lâm sàng
Số trẻ chào đời 33 bé 04 bé (bé trai đầu tiên nặng 3,6 kg)
  • Nội dung pháp luật thực định:
    • Điều kiện bên nhờ mang thai hộ (Điều 95): Vợ chồng có hôn nhân hợp pháp; có xác nhận của cơ sở y tế đủ thẩm quyền TTTON về việc người vợ không thể mang thai và sinh con dù đã áp dụng hỗ trợ sinh sản; cặp vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn đầy đủ về y tế, pháp lý, tâm lý (theo Điều 15, 17 Nghị định 10/2015/NĐ-CP).
    • Điều kiện bên mang thai hộ: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng (khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP: anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh chị em con chú, bác, cô, cậu, dì; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu); đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp (khuyến nghị y khoa từ 20–35 tuổi theo phân tích của chuyên gia Bệnh viện Từ Dũ); có xác nhận đủ khả năng mang thai của cơ sở TTTON; có văn bản đồng ý của người chồng nếu đã kết hôn; hoàn thành tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý.
    • Thỏa thuận mang thai hộ (Điều 96): Phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực; ủy quyền giữa hai vợ chồng phải bằng văn bản có công chứng (không được ủy quyền cho bên thứ ba).
    • Quyền, nghĩa vụ và chế độ thai sản: Quy định chi tiết theo Điều 97, Điều 98 Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định 115/2015/NĐ-CP (lao động nữ mang thai hộ được nghỉ khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày; nghỉ dưỡng sức khi sẩy/lưu thai theo tuần tuổi; hưởng trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở; nghỉ chế độ thai sản tối thiểu 60 ngày hoặc đến khi giao trẻ; người mẹ nhờ mang thai hộ hưởng chế độ thai sản từ khi nhận con đến khi con đủ 06 tháng tuổi).
    • Sàng lọc dị tật: Căn cứ Thông tư 34/2016/TT-BYT; số liệu Tổng cục Dân số ghi nhận cả nước có gần 1,5 triệu trẻ em sinh ra mỗi năm, nếu sàng lọc tốt sẽ can thiệp giảm thiểu 1.800 trẻ mắc hội chứng Down, 250 trẻ mắc hội chứng Edwards, 1.500 trẻ dị tật ống thần kinh, 300–400 trẻ suy giáp bẩm sinh (hơn 1.700 trẻ tử vong sơ sinh do dị tật bẩm sinh, chiếm tỷ lệ 11%).
  • Các khoảng trống và bất cập pháp lý được tác giả chỉ ra:
    1. Quyền đình chỉ thai nghén: Khoản 4 Điều 97 trao toàn quyền cho người mang thai hộ quyết định số lượng bào thai và việc tiếp tục thai kỳ nếu liên quan đến sức khỏe bản thân. Điều này tạo xung đột khi thai nhi phát hiện dị tật bẩm sinh nhưng bên nhờ mang thai hộ (chủ thể nuôi dưỡng suốt đời) không có quyền tham gia quyết định chấm dứt hay duy trì thai kỳ.
    2. Bế tắc trong chuyển giao con: Luật chỉ dự liệu trường hợp bên nhờ từ chối nhận con thì bên mang thai kiện buộc nhận, hoặc bên mang thai từ chối giao thì bên nhờ kiện buộc giao. Luật chưa dự liệu tình huống: bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con nhưng bên mang thai hộ lại tự nguyện muốn nuôi đứa trẻ (chưa có quy định chuyển tiếp công nhận quyền nuôi con theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010).
    3. Phạm vi thân thích hạn chế: Quy định "người thân thích cùng hàng" gây khó khăn lớn cho các cặp vợ chồng là con một hoặc gia đình không có chị em gái đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe.
    4. Độ tuổi mang thai hộ: Luật chỉ ghi chung chung "ở độ tuổi phù hợp" mà không ấn định khung tuổi cụ thể, gây tùy nghi trong áp dụng y tế và pháp lý.
    5. Quy định số lần mang thai hộ: Giới hạn "chỉ được mang thai hộ một lần" khiến các trường hợp sẩy thai, thai lưu ngoài ý muốn làm mất đi cơ hội tiếp tục giúp đỡ của người phụ nữ đó đối với cặp vợ chồng hiếm muộn.

Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên các vướng mắc thực tiễn đã phân tích, Chương 3 định hình 3 nhóm định hướng hoàn thiện:

  • Giải pháp đơn giản hóa quá trình hoàn thiện hồ sơ: Cắt giảm các thủ tục hành chính trùng lặp trong khâu thẩm định hồ sơ y tế, xác nhận tình trạng hôn nhân và tư vấn tâm lý - pháp lý; thiết lập cơ chế liên thông giữa các cơ sở y tế đủ điều kiện TTTON với tổ chức hành nghề công chứng nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị hồ sơ cho các cặp vợ chồng vô sinh.
  • Giải pháp điều chỉnh điều kiện mang thai hộ: Xem xét giải quyết trường hợp vợ chồng đã có con chung nhưng con chung bị dị tật bẩm sinh nặng, bệnh lý di truyền không có khả năng nhận thức và sinh hoạt bình thường; bổ sung cơ chế kiểm soát linh hoạt để hỗ trợ các trường hợp nhân đạo chính đáng mà không làm bùng phát thương mại hóa.
  • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật:
    • Luật hóa khung độ tuổi của người mang thai hộ từ đủ 20 đến 35 tuổi nhằm bảo đảm an toàn sản khoa và sức khỏe thai nhi.
    • Sửa đổi quy định "chỉ mang thai hộ một lần" theo hướng: chỉ tính một lần đối với trường hợp mang thai hộ thành công sinh ra đứa trẻ sống bình thường; trường hợp sẩy thai, đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý khách quan thì cho phép tiếp tục thực hiện kỹ thuật.
    • Bổ sung quy định tại Điều 94 và Điều 97 Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền ưu tiên nhận nuôi con của bên mang thai hộ theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khi bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con.
    • Bổ sung cơ chế đồng thuận có văn bản giữa hai bên trong trường hợp chẩn đoán trước sinh phát hiện thai nhi bị bất thường, dị tật nghiêm trọng theo Thông tư 34/2016/TT-BYT, tránh quyền quyết định đơn phương tuyệt đối gây bất lợi cho bên phải nuôi dưỡng trẻ sau này.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực tiễn minh chứng: Khóa luận đã dẫn xuất các số liệu cụ thể về y tế và dân số, bao gồm tỷ lệ vô sinh 7,7% (trên 14.300 cặp khảo sát); chi phí can thiệp TTTON tại Việt Nam (~2.000 USD); quy mô 21 trung tâm hỗ trợ sinh sản và 05 bệnh viện được phép can thiệp mang thai hộ; kết quả điều trị lâm sàng tại Bệnh viện Từ Dũ (117 ca mang thai hộ, 58 ca thụ thai thành công, 33 trẻ ra đời) và Bệnh viện Mỹ Đức (25 ca chuyển phôi, 04 trẻ ra đời).
  • Chỉ ra các xung đột và thiếu sót quy phạm: Nghiên cứu bóc tách 05 điểm bất cập lớn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP: sự mất cân bằng quyền lợi trong việc quyết định số phận thai nhi dị tật; khoảng trống pháp lý khi bên nhờ bỏ con và bên mang thai muốn nhận nuôi; sự thu hẹp đối tượng mang thai do tiêu chí "thân thích cùng hàng"; sự thiếu hụt quy định định lượng về độ tuổi; sự cứng nhắc của tiêu chí "chỉ mang thai hộ một lần".
  • Đề xuất sửa đổi lập pháp đồng bộ: Khóa luận đóng góp hệ thống giải pháp gắn kết giữa Luật Hôn nhân và gia đình với Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Nuôi con nuôi và các văn bản chuyên môn y tế của Bộ Y tế, bảo đảm tính nhân đạo đi đôi với kiểm soát nghiêm ngặt rủi ro thương mại hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận chủ yếu tiếp cận số liệu lâm sàng thứ cấp tại các cơ sở phụ sản phía Nam (chủ yếu là Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Mỹ Đức) và báo cáo y tế tính đến năm 2020. Nghiên cứu chưa tiếp cận được hệ thống án lệ hoặc hồ sơ xét xử thực tế của Tòa án nhân dân các cấp liên quan đến tranh chấp mang thai hộ do thời điểm hoàn thành đề tài, các vụ việc tranh chấp được đưa ra xét xử công khai còn rất hạn chế. Đồng thời, khóa luận chưa đi sâu phân tích chế tài xử lý hình sự đối với tội mang thai hộ vì mục đích thương mại theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành án dân sự đối với các phán quyết buộc nhận hoặc giao con; nghiên cứu cơ chế thanh toán và bồi hoàn chi phí chăm sóc sức khỏe sinh sản thực tế nhằm ngăn chặn việc lách luật chi trả tiền dưới danh nghĩa hỗ trợ; nghiên cứu phòng ngừa và kiểm soát các đường dây môi giới mang thai hộ thương mại có yếu tố xuyên quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học (đặc biệt trong các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Pháp luật về Quyền con người).
    • Cán bộ tư pháp, hộ tịch tại địa phương, luật sư, công chứng viên tham gia tư vấn và chứng thực thỏa thuận mang thai hộ.
    • Đội ngũ bác sĩ, chuyên viên pháp chế và ban tư vấn tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản, bệnh viện phụ sản.
    • Các cặp vợ chồng vô sinh đang tìm hiểu trình tự pháp lý để lập hồ sơ đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống phân tích đối chiếu pháp luật quốc tế tại Chương 2 (đặc biệt là mô hình pháp luật của Anh, Ukraine và Thái Lan).
    • Phần giải nghĩa chi tiết điều kiện hồ sơ pháp lý, thẩm quyền xác nhận y tế và thủ tục tư vấn bắt buộc ba bên (y tế, pháp lý, tâm lý) theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP.
    • Các luận điểm phản biện về quyền chấm dứt thai kỳ và quyền nhận con nuôi khi có tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận mang thai hộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cặp vợ chồng cần đáp ứng điều kiện gì để được nhờ mang thai hộ? Căn cứ khoản 2 Điều 95, bên nhờ mang thai hộ phải đáp ứng đủ 04 điều kiện: (1) Có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; (2) Vợ chồng đang không có con chung; (3) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý; (4) Thực hiện trên cơ sở tự nguyện và lập thành văn bản thỏa thuận có công chứng.

2. Tiêu chuẩn đối với người được nhờ mang thai hộ được pháp luật quy định như thế nào? Theo khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP, người mang thai hộ phải: (1) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; (2) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; (3) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của cơ sở y tế về khả năng mang thai; (4) Nếu đã kết hôn thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; (5) Đã được tư vấn đầy đủ về y tế, pháp lý và tâm lý.

3. Pháp luật quy định chế độ thai sản đối với người mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ ra sao? Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định 115/2015/NĐ-CP, lao động nữ mang thai hộ được nghỉ khám thai 05 lần (mỗi lần 01 ngày; ở xa hoặc có bệnh lý được nghỉ 02 ngày); nghỉ chế độ khi sẩy thai/thai lưu từ 10 đến 50 ngày tùy tuổi thai; trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở; được hưởng chế độ thai sản đến thời điểm giao đứa trẻ nhưng tối thiểu không dưới 60 ngày. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản tính từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

4. Xác định quan hệ cha mẹ - con và xử lý tranh chấp khi bên nhờ từ chối nhận con như thế nào? Theo Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2014, con sinh ra từ việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng bên nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. Theo khoản 5 Điều 97 và khoản 3 Điều 98, bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con; nếu bên nhờ từ chối nhận thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ phải nhận con; đồng thời bên chậm nhận con phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và bồi thường nếu gây thiệt hại.

5. Tại sao pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại? Mang thai hộ vì mục đích thương mại bị cấm theo khoản 23 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 vì bản chất của quan hệ này biến thỏa thuận mang thai thành hợp đồng thuê mướn lao động thể xác, biến trẻ em thành đối tượng trao đổi lợi ích vật chất, vi phạm nghiêm trọng quyền con người và Công ước quốc tế về chống buôn bán trẻ em; đồng thời dễ dẫn đến nguy cơ bóc lột phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hồ Thị Phương Mai đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo – một bước tiến pháp lý quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm bảo đảm quyền làm cha mẹ chính đáng của các cặp vợ chồng vô sinh. Công trình đã phản ánh sát thực tế kết quả ứng dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại các bệnh viện phụ sản tuyến đầu, đồng thời phân tích sắc sảo những mâu thuẫn, khoảng trống quy phạm trong việc phân định quyền quyết định số phận thai nhi dị tật, phạm vi thân thích và hậu quả pháp lý khi xảy ra vi phạm thỏa thuận giao nhận con. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được luận giải chặt chẽ, mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn sâu sắc cho công tác lập pháp cũng như hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực y tế - hôn nhân gia đình hiện nay.