Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam sau hơn 55 năm hình thành và phát triển (1960–2015) đã ghi nhận bước tiến nhảy vọt về quy mô kinh tế. Giai đoạn 2000–2014, doanh thu toàn ngành tăng từ 17,4 nghìn tỷ đồng lên 230 nghìn tỷ đồng, đạt mức tăng trưởng 15% chỉ riêng trong năm 2014. Số lượt khách nội địa tăng gấp 35 lần và khách quốc tế tăng hơn 30 lần so với thời điểm năm 1990. Tuy nhiên, năm 2013, lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt 7.572 nghìn lượt, tạo khoảng cách khá xa so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia (10.810 nghìn lượt), Singapore (12.470 nghìn lượt) và Thái Lan (16.420 nghìn lượt). Thực trạng này phản ánh những điểm nghẽn thể chế khi Luật Du lịch 2005 sau 10 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập, mâu thuẫn và thiếu tính khả thi.

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực du lịch tại Việt Nam từ năm 1960 đến năm 2015, đặt trọng tâm vào giai đoạn thi hành Luật Du lịch 2005 và các văn bản hướng dẫn. Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng lập pháp và thi hành pháp luật du lịch, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đồng bộ, hiện đại. Về mặt thực tiễn, công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp và tạo đòn bẩy thể chế để ngành du lịch đóng góp từ 8% đến 10% GDP quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước bằng pháp luật và lý thuyết xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu tiếp cận du lịch dưới góc độ kinh tế học pháp lý: du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, đòi hỏi pháp luật phải vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh vừa bảo tồn các giá trị văn hóa và môi trường sinh thái.

Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm:

  • Pháp luật du lịch: Hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tổ chức, kinh doanh và quản trị du lịch.
  • Hoàn thiện pháp luật: Quá trình sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới nhằm nâng cao tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp và khả thi của hệ thống văn bản quy phạm.
  • Hoạt động kinh doanh du lịch: Bao gồm dịch vụ lữ hành, vận chuyển du khách, lưu trú du lịch và phát triển khu, điểm, đô thị du lịch.
  • Khách du lịch: Phân định rõ ràng giữa du khách nội địa, khách du lịch quốc tế vào Việt Nam (inbound) và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài (outbound).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định gồm 1 đạo luật chuyên ngành (Luật Du lịch 2005), 12 Nghị định của Chính phủ, hơn 30 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, gần 30 Thông tư của các Bộ ngành liên quan và báo cáo thống kê ngành du lịch từ năm 1960 đến 2015.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia và khảo sát chủ đích toàn bộ 100% văn bản quy phạm pháp luật du lịch chủ chốt đã ban hành qua 4 giai đoạn lịch sử. Cỡ mẫu phân tích bao gồm chuỗi số liệu hoạt động của hơn 1.400 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế trên toàn quốc giai đoạn 2005–2014 và dữ liệu thực thi pháp luật tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trọng điểm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích duy vật biện chứng kết hợp so sánh luật học (Comparative Law) và phân tích thống kê là nhằm bóc tách các mối liên hệ giữa thể chế pháp lý và hiệu quả tăng trưởng kinh tế. Phương pháp lịch sử cụ thể giúp tái hiện tiến trình lập pháp gắn liền với từng thời kỳ đổi mới, trong khi phương pháp phân tích quy phạm giúp phát hiện chính xác các khoảng trống pháp lý, sự chồng chéo giữa Luật Du lịch với Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Bảo vệ môi trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống pháp luật du lịch trải qua 4 giai đoạn chuyển biến nhưng khung khổ hiện hành chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn 2000–2014, doanh thu toàn ngành tăng 13,2 lần (từ 17,4 lên 230 nghìn tỷ đồng), song lượng khách quốc tế năm 2013 của Việt Nam chỉ bằng 46,1% so với Thái Lan và 60,7% so với Singapore. Sự tụt hậu này xuất phát một phần từ cơ chế pháp lý quản lý xuất nhập cảnh, xúc tiến thị trường và liên kết vùng còn phân tán.

Thứ hai, mức độ đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm còn thấp. Sau 10 năm thực hiện Luật Du lịch 2005, có khoảng 30% nội dung dưới luật xuất hiện điểm xung đột hoặc thiếu đồng bộ với hệ thống pháp luật chung như Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Việc quản lý điều kiện kinh doanh lữ hành và lưu trú còn mang nặng thủ tục hành chính, làm giảm chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch quốc gia.

Thứ ba, sự thiếu vắng chế tài đối với các mô hình dịch vụ mới. Luận văn chỉ ra lỗ hổng lớn khi pháp luật chưa có quy định điều chỉnh hành vi kinh doanh đa cấp trong lĩnh vực du lịch, thiếu quy trình chuẩn về đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành và chưa bắt buộc trách nhiệm mua bảo hiểm đối với du khách nội địa.

Thứ tư, nhiều điều khoản trong Luật Du lịch 2005 mang tính ước vọng, thiếu tính khả thi. Điển hình là chủ trương thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch và Văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam tại nước ngoài bị đình trệ nhiều năm do xung đột thẩm quyền giữa các bộ ngành và thiếu cơ chế tài chính minh bạch.

Thảo luận kết quả

Thực trạng hạn chế của pháp luật du lịch xuất phát từ nguyên nhân khách quan do đặc thù ngành có tính liên ngành cao, liên quan đến giao thông, an ninh trật tự, tài nguyên và văn hóa. Về chủ quan, năng lực bộ máy pháp chế chuyên ngành còn mỏng, công tác đánh giá tác động chính sách (RIA) chưa được thực hiện triệt để trước khi ban hành văn bản.

Dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa rõ ràng qua Bảng 2.1 của luận văn về sự biến động số lượng doanh nghiệp lữ hành quốc tế giai đoạn 2005–2014, minh chứng cho sự bùng nổ của khu vực kinh tế tư nhân trong khi hành lang giám sát chất lượng dịch vụ lại bộc lộ nhiều kẽ hở. So sánh với các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, kết quả luận văn khẳng định nhu cầu cấp thiết phải chuyển đổi tư duy lập pháp: từ tiền kiểm hành chính sang hậu kiểm theo tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và quản trị rủi ro.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần khẩn trương sửa đổi toàn diện Luật Du lịch 2005 trong giai đoạn 2016–2017. Trọng tâm là hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, loại bỏ 100% các điều khoản mang tính tuyên ngôn chung, luật hóa các quy chuẩn dịch vụ và bổ sung chế tài cấm triệt để mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng trong lĩnh vực du lịch.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi du khách và bảo hiểm du lịch trước năm 2017. Cần ban hành nghị định quy định bắt buộc 100% doanh nghiệp lữ hành nội địa phải mua bảo hiểm du lịch cho khách tham quan theo tuyến điểm, đồng thời thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh của du khách với mục tiêu giải quyết thỏa đáng trên 95% số vụ việc phát sinh trong vòng 48 giờ.

Thứ ba, phân cấp mạnh mẽ quyền quản lý tài nguyên và quy hoạch điểm đến cho chính quyền địa phương cấp tỉnh từ năm 2016 đến 2018. Chuẩn hóa bộ tiêu chí công nhận khu du lịch, điểm du lịch và đô thị du lịch cấp quốc gia; cắt giảm ít nhất 20% thời gian thực hiện các thủ tục hành chính về cấp đổi thẻ hướng dẫn viên và cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế.

Thứ tư, phối hợp liên bộ giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao để đưa Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch vào vận hành thực tế trong giai đoạn 2016–2020. Thiết lập mạng lưới văn phòng đại diện xúc tiến du lịch tại các thị trường trọng điểm nhằm thúc đẩy lượng khách quốc tế tăng trưởng bình quân từ 10% đến 12% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các nhà lập pháp tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và Sở Du lịch các tỉnh thành. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở lý luận vững chắc phục vụ việc xây dựng dự thảo Luật Du lịch sửa đổi cùng các nghị định hướng dẫn thi hành.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật học, Du lịch học và Quản lý công tại các viện, trường đại học. Tài liệu đóng vai trò là công trình tham khảo chuyên sâu về lý luận nhà nước và pháp luật trong việc điều tiết nền kinh tế dịch vụ.

Nhóm 3: Lãnh đạo và chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khách sạn và vận chuyển du lịch. Công trình giúp doanh nghiệp nắm vững các rủi ro pháp lý, chuẩn hóa quy trình ký quỹ, quản lý hợp đồng lữ hành và thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm khách hàng.

Nhóm 4: Luật sư, chuyên gia tư vấn đầu tư và các tổ chức hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Luận văn hỗ trợ xây dựng giải pháp bảo vệ quyền lợi hội viên, tư vấn dự án đầu tư phát triển khu du lịch và tham gia phản biện chính sách ngành.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần phải sửa đổi Luật Du lịch 2005 sau 10 năm áp dụng?
Sau 10 năm thực thi, quy mô ngành đã tăng trưởng vượt bậc với doanh thu năm 2014 đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 13 lần so với năm 2000. Luật Du lịch 2005 xuất hiện nhiều quy định thiếu khả thi, không theo kịp các hiệp định thương mại quốc tế và gây chồng chéo với Luật Doanh nghiệp mới.

Luận văn xác định những tiêu chí nào để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật du lịch?
Luận văn đưa ra 5 tiêu chí nền tảng gồm: tính toàn diện của các chế định, tính thống nhất nội tại và đồng bộ với pháp luật liên quan, tính phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội, tính ổn định tương đối của văn bản và tính khả thi trong thực tế thi hành.

Quản lý kinh doanh lữ hành quốc tế trong giai đoạn 2005–2014 còn những bất cập gì?
Hệ thống văn bản thiếu quy định chi tiết về trình tự đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép lữ hành, quy định ký quỹ chưa linh hoạt theo biến động thị trường và chưa có ranh giới pháp lý rõ ràng để bảo vệ khách du lịch outbound trước các rủi ro phát sinh tại nước ngoài.

Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng thiếu văn bản hướng dẫn thi hành luật?
Cần đổi mới kỹ thuật lập pháp theo hướng luật chi tiết hóa tối đa các quy phạm có thể áp dụng trực tiếp, gắn trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo với tiến độ ban hành nghị định, đảm bảo văn bản hướng dẫn có hiệu lực cùng thời điểm với luật.

Làm thế nào để đảm bảo tính khả thi cho việc thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch?
Cần xây dựng cơ chế trích nộp minh bạch từ nguồn thu phí tham quan, phí thị thực và đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, đồng thời ban hành quy chế tài chính liên bộ giữa Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để quản lý quỹ độc lập, hiệu quả.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bản chất, vai trò của du lịch và xác lập 5 tiêu chí khoa học đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật du lịch Việt Nam.
  • Khái quát bức tranh lịch sử lập pháp du lịch qua 4 giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2015, chỉ rõ bước chuyển biến từ quản lý hành chính bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Bóc tách toàn diện các hạn chế của Luật Du lịch 2005: mâu thuẫn văn bản, thiếu chế tài quản lý mô hình mới, tỷ lệ khách quốc tế năm 2013 (7.572 nghìn lượt) còn thấp so với tiềm năng.
  • Xác định hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện nội dung và hình thức pháp luật, trọng tâm là sửa đổi Luật Du lịch, chuẩn hóa bảo hiểm nội địa và vận hành Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch.
  • Đề ra lộ trình cải cách thể chế giai đoạn 2016–2020 nhằm kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ tài nguyên văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển bền vững ngành du lịch có thể tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng vào công tác lập quy và quản trị thực tiễn.