Tổng quan nghiên cứu

Ngành kinh tế xanh Việt Nam ghi nhận sự phát triển vượt bậc với dấu mốc đón 4.229.257 lượt khách quốc tế vào năm 2007 và bứt phá mạnh mẽ khi đạt 3.212.480 lượt khách chỉ trong quý 1 năm 2017, tương đương tốc độ tăng trưởng 129,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức vận hành, các rào cản thương mại dịch vụ từng bước được dỡ bỏ, mở ra không gian lưu chuyển tự do của dòng vốn, sản phẩm du lịch và lao động chuyên môn. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cũng đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về năng lực cạnh tranh điểm đến, sự chênh lệch chất lượng dịch vụ và nguy cơ thất thoát thị phần nội địa trước các tập đoàn đa quốc gia.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự do hóa dịch vụ du lịch, phân tích thực trạng phát triển du lịch quốc tế chủ động (inbound) tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2018, đồng thời nhận diện toàn diện các cơ hội và thách thức từ các hiệp định nội khối. Trên cơ sở đó, công trình xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược khả thi cho giai đoạn đến năm 2020 và định hình tầm nhìn phát triển bền vững đến năm 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế du lịch Việt Nam trong mối tương quan với các thị trường thành viên ASEAN và các thị trường nguồn trọng điểm toàn cầu. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp trực tiếp trên 10% vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) và thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế kết hợp với mô hình lợi thế cạnh tranh điểm đến du lịch của Michael Porter. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết cung - cầu kinh tế du lịch của Larry Dwyer, Peter Forsyth và Andreas Papatheodorou (2011) nhằm phân tích độ co giãn của cầu du lịch quốc tế trước các biến động về chính sách thị thực, chi phí dịch vụ và tự do hóa thương mại.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Du lịch quốc tế chủ động (inbound tourism), Tự do hóa thương mại dịch vụ theo Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch (MRA-TP), và Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch quốc gia. Khung lý thuyết làm rõ cơ chế tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), trong đó tỷ trọng FDI nội khối ASEAN tăng trưởng từ 9,6% năm 2009 lên 17,9% năm 2014, tạo đòn bẩy quan trọng cho việc nâng cấp hạ tầng lưu trú và dịch vụ bổ trợ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp định tính dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch và Ban Thư ký ASEAN trong giai đoạn 12 năm liên tục từ năm 2007 đến năm 2018. Mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi số liệu vĩ mô của toàn bộ 10 quốc gia thành viên khối ASEAN cùng tập dữ liệu phân rã từ 25 thị trường gửi khách hàng đầu của Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu toàn thể theo chuỗi thời gian được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện, tính khách quan và hạn chế tối đa sai số lựa chọn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và đối sánh kinh tế là nhằm bóc tách chính xác xu hướng biến động của dòng khách, doanh thu du lịch và cơ cấu chi tiêu trước và sau khi thành lập AEC. Quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua 4 giai đoạn trong thời gian 2017 – 2018: thu thập dữ liệu thứ cấp, làm sạch và chuẩn hóa biến số, phân tích định lượng tương quan, và kiểm định thực tiễn đối chiếu với Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) cùng 32 chức danh công việc chuẩn hóa theo Thỏa thuận MRA-TP.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ nhưng phân hóa rõ rệt theo khu vực địa lý. Dữ liệu quý 1 năm 2017 cho thấy tổng lượt khách đạt 3.212.480 lượt, tăng 29,0% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường Đông Bắc Á chiếm tỷ trọng áp đảo, tiêu biểu là Trung Quốc đạt 949.199 lượt khách (tăng 63,5%) và Hàn Quốc đạt 527.464 lượt khách (tăng 29,2%). Trong khi đó, dòng khách từ các thị trường truyền thống như Mỹ đạt 179.661 lượt khách (tăng 9,1%) và Pháp đạt 74.876 lượt khách (tăng 10,8%).

Thứ hai, thị trường nội khối AEC đóng vai trò bệ đỡ quan trọng cho sự phục hồi và tăng trưởng ổn định. Điển hình trong quý 1 năm 2017, khách du lịch từ Malaysia đạt 113.099 lượt (tăng 19,9%), Thái Lan đạt 78.591 lượt (tăng 17,7%), Singapore đạt 62.945 lượt (tăng 6,0%) và Campuchia đạt 56.187 lượt (tăng 34,9%). Sự gia tăng này khẳng định tính hiệu quả của các hiệp định miễn thị thực song phương và sự kết nối các tuyến bay giá rẻ trong khu vực.

Thứ ba, cơ cấu dòng vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng lưu trú cao cấp có sự chuyển biến tích cực. Dòng vốn FDI ròng vào khu vực ASEAN đạt tổng cộng 47,2 tỷ USD ngay từ năm 2009 và liên tục duy trì đà tăng trưởng cao, lan tỏa mạnh mẽ vào phân khúc khách sạn nghỉ dưỡng 3 đến 5 sao tại các trung tâm du lịch ven biển như Nha Trang, Đà Nẵng và Quảng Ninh.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động du lịch Việt Nam vẫn là điểm nghẽn lớn khi hội nhập. Mặc dù hệ thống VTOS đã ban hành các tiêu chuẩn nghề nghiệp, tỷ lệ lao động được cấp chứng chỉ hành nghề đáp ứng tiêu chuẩn chung ASEAN (ACCSTP) còn rất thấp, khiến mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế tại Việt Nam thấp hơn khoảng 25% đến 30% so với mức chi tiêu tại Thái Lan hay Singapore.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng đột phá về lượng khách bắt nguồn từ việc thực thi có hiệu quả các cam kết tự do hóa hàng không và đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh trong khuôn khổ AEC. Dữ liệu thực nghiệm phân kỳ tăng trưởng khách quốc tế giai đoạn 2007 – 2017 có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng nhiều lớp kết hợp bảng phân bổ thị phần theo phương tiện di chuyển (đường hàng không chiếm trên 80%, theo sau là đường bộ và đường biển).

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu quốc tế của Clement A. Tisdell (2013) và Anna Athanasopoulou (2013), kết quả của luận văn hoàn toàn củng cố nhận định rằng hội nhập kinh tế khu vực là đòn bẩy trực tiếp gia tăng quy mô dòng khách. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng phản ánh thực trạng nghịch lý tăng trưởng số lượng vượt trội nhưng giá trị gia tăng chưa tương xứng, tương tự cảnh báo của Fatemeh Tohidy Ardahaey (2011) về chi phí cơ hội môi trường và sự tụt hậu năng suất nếu không kịp thời nâng cấp chuỗi giá trị dịch vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh chiến dịch quảng bá và xúc tiến thương hiệu du lịch quốc gia trên các nền tảng số hóa tại các thị trường trọng điểm ASEAN và Đông Bắc Á. Tổng cục Du lịch chủ trì phối hợp cùng các hãng hàng không hướng tới mục tiêu tăng trưởng lượt khách quốc tế bình quân từ 15% đến 18%/năm trong giai đoạn 2018 – 2020 theo đúng định hướng tại Quyết định 247/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ hai, chuẩn hóa toàn diện hệ thống đào tạo nghề du lịch theo khung tham chiếu trình độ MRA-TP và Bộ tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam (VTOS). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 70% cán bộ quản lý và nhân viên tại các cơ sở lưu trú 4-5 sao đạt chứng chỉ năng lực nghề nghiệp tương đương chuẩn ASEAN (ACCSTP).

Thứ ba, tái cơ cấu nguồn vốn và đa dạng hóa hình thức huy động đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật du lịch. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các địa phương cần đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong ngành du lịch, khuyến khích các tập đoàn tư nhân rót vốn xây dựng các tổ hợp vui chơi nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế, đồng thời phấn đấu kéo giảm tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trực tiếp xuống dưới 15% tổng vốn toàn ngành trước năm 2030.

Thứ tư, thiết lập cơ chế liên kết vùng và chuỗi giá trị du lịch xuyên biên giới nhằm khai thác tối đa lợi thế của các hành lang kinh tế khu vực. Chính quyền các địa phương trọng điểm du lịch miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long cần chủ động liên kết xây dựng tối thiểu 5 gói sản phẩm du lịch chung đặc thù của khối AEC vào năm 2022, kết nối các điểm đến di sản thế giới để gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Bộ VHTTDL, Tổng cục Du lịch): Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận vững chắc để rà soát, điều chỉnh chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030, hoàn thiện khung pháp lý thực thi Thỏa thuận MRA-TP và Luật Du lịch.
  • Doanh nghiệp lữ hành và khách sạn quốc tế: Cung cấp thông tin chuyên sâu về phân khúc thị trường, hành vi tiêu dùng và đặc điểm nguồn khách từ 25 quốc gia, giúp các đơn vị xây dựng chiến lược định giá, phát triển sản phẩm tour và quản trị nhân sự thích ứng với biến động thị trường.
  • Cơ sở giáo dục đại học và trường đào tạo nghề du lịch: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang tham chiếu chuẩn mực để đổi mới chương trình đào tạo theo 32 chức danh công việc của khung chuẩn ASEAN (CATC), nâng cao năng lực ngoại ngữ và kỹ năng nghề cho sinh viên.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế: Khai thác kho tư liệu học thuật giá trị với hơn 60 danh mục tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế về tự do hóa thương mại dịch vụ và kinh tế du lịch vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

Hội nhập AEC mang lại những cơ hội nổi bật nào cho du lịch quốc tế Việt Nam? AEC mang lại cơ hội mở rộng thị trường khách tiềm năng với quy mô hơn 600 triệu dân nhờ chính sách miễn thị thực nội khối. Dòng vốn FDI ròng vào khu vực tăng trưởng ổn định (vượt mức 47 tỷ USD) tạo điều kiện hiện đại hóa hạ tầng du lịch và thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ toàn cầu.

Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch (MRA-TP) tạo ra thách thức gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ thất thoát việc làm chất lượng cao ngay trên sân nhà do lao động tay nghề cao từ các nước phát triển như Singapore, Philippines, Malaysia có trình độ ngoại ngữ và kỹ năng quản trị vượt trội dễ dàng dịch chuyển tự do vào Việt Nam theo 32 chức danh công việc được công nhận.

Các thị trường gửi khách quốc tế lớn nhất của Việt Nam giai đoạn này gồm những quốc gia nào? Thị trường Đông Bắc Á giữ vai trò chủ lực với Trung Quốc (đạt 949.199 lượt khách trong quý 1/2017) và Hàn Quốc (đạt 527.464 lượt khách). Bên cạnh đó, các thị trường nội khối AEC như Malaysia (113.099 lượt), Thái Lan (78.591 lượt) và các thị trường đường xa như Nga, Mỹ đều đạt mức tăng trưởng trên 100% so với cùng kỳ.

Làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trước Thái Lan và Singapore? Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa đặc thù có tính cá biệt cao, đồng thời chuẩn hóa chất lượng phục vụ theo tiêu chuẩn quốc tế VTOS. Việc tập trung phát triển hạ tầng cảng hàng không và cắt giảm chi phí trung gian là chìa khóa then chốt để kéo giảm giá thành tour.

Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng du lịch Việt Nam cần chuyển dịch ra sao? Chiến lược chuyển dịch trọng tâm là giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa và huy động nguồn vốn từ các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước kết hợp dòng vốn FDI ngoại khối. Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp dịch vụ nhà nước sẽ tối ưu hóa hiệu quả vận hành và giảm áp lực bội chi.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận khoa học về phát triển du lịch quốc tế chủ động trong tiến trình tự do hóa thương mại dịch vụ của Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
  • Đánh giá xác thực bức tranh tăng trưởng du lịch Việt Nam giai đoạn 2007 – 2018 với các minh chứng số liệu sinh động từ 3,2 triệu lượt khách quý 1/2017 và dòng vốn FDI nội khối mở rộng từ 9,6% lên 17,9%.
  • Nhận diện trực diện những rào cản nội tại về chất lượng nguồn nhân lực, tính liên kết chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh điểm đến trước sức ép thực thi thỏa thuận MRA-TP.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi gắn liền với mục tiêu tăng trưởng 15-18%/năm và chuẩn hóa 70% nhân lực nghề du lịch giai đoạn 2020 – 2025.
  • Kêu gọi các cơ quan quản lý và hiệp hội doanh nghiệp nhanh chóng chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản trị, tạo bước nhảy vọt đưa du lịch Việt Nam vươn lên vị thế hàng đầu khu vực Đông Nam Á.