Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tình hình phát triển du lịch Thành Phố Đà Lạt và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng" được tác giả Ka Thuy thực hiện năm 2013 tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Vũ Thanh Nhật.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vai trò của du lịch với tư cách là ngành kinh tế tổng hợp mũi nhọn, đóng góp ngày càng lớn vào tỷ trọng GDP của Việt Nam. Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỉnh Lâm Đồng nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng sở hữu các lợi thế tự nhiên đặc thù về khí hậu ôn hòa, địa hình đồi núi, cảnh quan thác hồ và tài nguyên nhân văn đa dạng. Xuất phát từ thực tiễn thành phố Đà Lạt là trung tâm du lịch lớn của cả nước nhưng các tác động lan tỏa của ngành du lịch đô thị này đến sự chuyển dịch kinh tế, xã hội và môi trường của toàn tỉnh Lâm Đồng cần được luận giải khoa học, tác giả (với tư cách là người sinh ra và lớn lên tại địa phương) đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt và những tác động của hoạt động này tới sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, hướng tới phát triển du lịch bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ):
    1. Xác định cơ sở lý luận về nghiên cứu địa lí du lịch; phân tích và đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên cùng tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Đà Lạt.
    2. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch và các tác động của hoạt động du lịch đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Lạt.
    3. Phân tích, tổng hợp kết quả về hiện trạng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt trong mối tương quan với tỉnh Lâm Đồng.
    4. Rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch địa phương.
    5. Xây dựng định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp phát triển du lịch thành phố Đà Lạt trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình phát triển ngành du lịch thành phố Đà Lạt và các tác động tương hỗ đến kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ hành chính thành phố Đà Lạt, có đặt trong mối quan hệ đối sánh với không gian kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, xử lý chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2005 – 2011, đồng thời cập nhật một số chỉ tiêu ước tính năm 2012 và quý I năm 2013.

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả điểm qua các công trình tiêu biểu liên quan đến địa bàn:

  • Cuốn sách "Địa chí Lâm Đồng" do UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc phát hành năm 2001: Công trình dừng lại ở mức độ giới thiệu tổng quan địa danh, địa chí các huyện, thị mà chưa đi sâu phân tích tác động đa chiều của du lịch Đà Lạt đến kinh tế, xã hội, môi trường của tỉnh.
  • Khóa luận "Đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển du lịch thành phố Đà Lạt - Tỉnh Lâm Đồng" của tác giả Trần Thái Bảo (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, niên khóa 2003 – 2007, GVHD: ThS. Nguyễn Thiện Hiển): Nghiên cứu tập trung vào thực trạng và giải pháp thuần túy của thành phố Đà Lạt, chưa phân tích tác động lan tỏa đến các ngành kinh tế khác và môi trường toàn tỉnh.
  • Khóa luận "Tìm hiểu sự phát triển của du lịch và những tác động của nó đến kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng" của tác giả Đinh Thị Nga (GVHD: ThS. Bùi Vũ Thanh Nhật): Đề tài phân tích tác động du lịch ở quy mô cấp tỉnh nhưng chưa làm rõ vai trò hạt nhân trung tâm của thành phố Đà Lạt đối với toàn bộ hệ thống lãnh thổ tỉnh Lâm Đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm chuyên ngành dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và công trình học thuật chuẩn mực:

  • Khái niệm du lịch và khách du lịch: Dẫn dụng định nghĩa của Hiệp hội Quốc tế các Tổ chức Du lịch chính thức (IUOTO, 1925), định nghĩa của I. Pirojnik trong "Cơ sở địa lí dịch vụ và du lịch" (1985), định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Thế giới (UNWTO) và Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005. Khái niệm khách du lịch được phân tích theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, định nghĩa của Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc (Roma, 1963) và Hội nghị Quốc tế về Du lịch tại La Haye (1989).
  • Hệ thống phân vị không gian và cơ sở du lịch: Áp dụng định nghĩa và tiêu chuẩn quy định tại Luật Du lịch năm 2005 về điểm du lịch (gồm điểm du lịch quốc gia với yêu cầu phục vụ tối thiểu 100.000 lượt khách/năm và điểm du lịch địa phương phục vụ tối thiểu 10.000 lượt khách/năm), khu du lịch, tuyến du lịch và cơ sở lưu trú du lịch (theo Điều 4 khoản 12 và Điều 62 mục 4 chương IV).
  • Tài nguyên du lịch: Khái niệm, vai trò và phân loại tài nguyên du lịch theo Điều 13 chương II Luật Du lịch 2005, chia tách thành hai bộ phận: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa dân gian, công trình sáng tạo). Tài nguyên được xác định chiếm từ 80% đến 90% giá trị cấu thành sản phẩm du lịch.
  • Du lịch sinh thái và phát triển bền vững: Khái niệm du lịch sinh thái của Hector Ceballos-Lascurain (1987) và định nghĩa tại Hội thảo Chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam (1999). Quan niệm phát triển du lịch bền vững được xem xét đồng thời trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.

Về phương pháp luận địa lí học, tác giả quán triệt 5 quan điểm nghiên cứu cơ bản:

  • Quan điểm hệ thống: Đặt sự phát triển của du lịch Đà Lạt trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng và cả nước.
  • Quan điểm lãnh thổ: Phân tích sự phân bố không gian của các tài nguyên và hoạt động du lịch giữa các đơn vị hành chính.
  • Quan điểm tổng hợp: Đánh giá mối quan hệ đa chiều giữa tự nhiên, kinh tế, hạ tầng dịch vụ và đời sống xã hội.
  • Quan điểm phát triển bền vững: Cân bằng lợi ích kinh tế hiện tại với việc bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị di sản văn hóa.
  • Quan điểm viễn cảnh - lịch sử: Phân tích lịch sử hình thành để xác định xu hướng và định hướng phát triển tương lai.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát thực tế tại các tuyến, điểm, khu du lịch và cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố Đà Lạt.
  • Phương pháp thống kê - toán học: Thu thập, chọn lọc, xử lý và tổng hợp các chuỗi số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, báo cáo của Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng và TP. Đà Lạt.
  • Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Xây dựng và phân tích hệ thống bản đồ hành chính, biểu đồ tăng trưởng khách du lịch, doanh thu và cơ cấu lao động để trực quan hóa quy luật không gian.
  • Phương pháp dự báo: Khái quát hóa thông tin nhằm dự báo quy mô khách du lịch và nhu cầu hạ tầng trong các giai đoạn tiếp theo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lý luận

Chương này tập trung chuẩn hóa cơ sở lý thuyết về địa lí du lịch, đồng thời phác thảo bức tranh tổng quan ngành du lịch Việt Nam và tỉnh Lâm Đồng làm hệ quy chiếu cho đề tài.

  • Về du lịch Việt Nam: Sau gần 50 năm phát triển (1960 - 2010), ngành du lịch khẳng định vị thế mũi nhọn. Năm 2010, Việt Nam đón 5 triệu lượt khách quốc tế, hơn 28 triệu lượt khách nội địa, doanh thu xã hội đạt 96 ngàn tỷ đồng, đóng góp 5,25% GDP (năm 2009). Cả nước có 8.556 cơ sở lưu trú với 170.551 buồng (tăng gấp 25 lần so với năm 1990, tốc độ tăng bình quân 12,6%/năm); trong đó có 4.283 cơ sở được xếp hạng (25 khách sạn 5 sao với 7.167 buồng, 69 khách sạn 4 sao với 8.800 buồng, 144 khách sạn 3 sao với 10.307 buồng, 590 khách sạn 2 sao với 24.041 buồng, 623 khách sạn 1 sao với 16.830 buồng). Lực lượng lao động ngành đạt 234.000 lao động trực tiếp và 550.000 lao động gián tiếp (tỷ lệ qua đào tạo đạt 42,5%).
  • Về du lịch tỉnh Lâm Đồng: Năm 2012, lượng khách đến tỉnh ước đạt 3,8 triệu lượt (khách quốc tế đạt 200.600 lượt, tăng 10,7% so với năm 2011; khách nội địa đạt 3,6 triệu lượt); ngày lưu trú bình quân 2,4 ngày; doanh thu xã hội ước khoảng 6.000 tỷ đồng; công suất sử dụng buồng bình quân đạt 58%. Quý I năm 2013, Lâm Đồng đón xấp xỉ 1,1 triệu lượt khách (khách quốc tế đạt 66.000 lượt), bắt đầu thu hút dòng khách chi trả cao từ thị trường Nga và Hàn Quốc kết nối qua Khánh Hòa, Bình Thuận. Toàn tỉnh có 749 cơ sở lưu trú với 11.975 phòng, sức chứa tối đa khoảng 40.000 khách/ngày-đêm; gồm 202 khách sạn 1-5 sao (5.791 phòng), trong đó có 21 khách sạn hạng 3-5 sao (1.520 phòng). Khóa luận cũng chỉ rõ hạn chế của du lịch tỉnh: cơ sở lưu trú quy mô nhỏ hoạt động hộ gia đình còn chiếm tỷ lệ lớn; khách sạn 1-5 sao chỉ chiếm 27% tổng cơ sở lưu trú; còn tình trạng đầu cơ ép giá phòng dịp lễ tết; sản phẩm dịch vụ chậm đổi mới khiến một số điểm tham quan lớn suy giảm lượng khách (Thung lũng Tình yêu, Đồi Mộng Mơ, thác Prenn).

Chương 2: Tình hình phát triển du lịch thành phố Đà Lạt và những tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích toàn diện tiềm năng, hiện trạng và tác động của du lịch Đà Lạt đối với toàn tỉnh.

  • Khái quát địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Lâm Đồng có diện tích 9.772,19 km² (chiếm 3,1% diện tích cả nước, 17,9% Tây Nguyên), dân số năm 2011 là 1.200.700 người, mật độ 125 người/km², gồm 12 đơn vị hành chính cấp huyện (TP. Đà Lạt, TP. Bảo Lộc và 10 huyện), 149 đơn vị cấp xã (118 xã, 18 phường, 12 thị trấn; 45 xã đặc biệt khó khăn). Thành phố Đà Lạt rộng 394,64 km², dân số 211.000 người, là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, gồm 12 phường và 4 xã (Xuân Thọ, Xuân Trường, Tà Nung, Trạm Hành).
  • Đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch thành phố Đà Lạt:
    • Tài nguyên tự nhiên: Nằm trên cao nguyên Lâm Viên ở độ cao 1.500m, bao bọc bởi các đỉnh núi Langbiang (2.165m), núi Voi (1.756m), Láp Bê Bắc (1.730m), Đan-Se-Na (1.956m). Khí hậu cận nhiệt đới núi cao, nhiệt độ trung bình tháng không vượt quá 20°C, các tháng mùa đông vẫn trên 14°C; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Mạng lưới thủy văn gồm hơn 20 dòng suối dài trên 4km (14 suối bắt nguồn từ độ cao trên 1.200m), hệ thống hồ nhân tạo nổi tiếng (Xuân Hương, Than Thở, Đa Thiện, Tuyền Lâm, Suối Vàng) và các thác nước tự nhiên (Prenn, Datanla, Cam Ly). Đất feralit đỏ vàng và vàng đỏ chiếm 90% diện tích. Tài nguyên rừng chiếm ưu thế với 28.909 ha đất lâm nghiệp trên tổng diện tích tự nhiên 39.104 ha (tỷ lệ 73,9%), rừng thông ba lá thuần loại chiếm hơn 26.000 ha (trong đó trên 20.000 ha là rừng phòng hộ).
    • Tài nguyên nhân văn: Thành phần dân tộc đa dạng gồm người Kinh, Cơ Ho bản địa (nhóm Lạch, Chil, Srê), Hoa, Tày, Nùng, Chăm, Mạ. Di sản kiến trúc độc đáo với khoảng 2.000 biệt thự cổ mang phong cách kiến trúc các vùng miền nước Pháp: vùng Savoie (tầng dưới xây đá, tầng trên bằng gỗ có ban công rộng), vùng Normandie (mái ngói bẻ góc, tường xây đá che đến bệ cửa, phần trên lộ khung sườn gỗ), vùng Pays Basque (tường lồi, mái rộng đưa ra ngoài), vùng Bretagne (mái lợp phiến đá, tường đá che). Các công trình tôn giáo nổi tiếng gồm chùa Linh Sơn, Linh Quang, Nhà thờ Chánh Tòa, Domaine de Marie, Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế. Các di tích danh thắng và lễ hội truyền thống (lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu).
    • Hạ tầng và các ngành kinh tế bổ trợ: Nông nghiệp công nghệ cao sản xuất gần 200.000 tấn rau quả/năm (xuất khẩu gần 40.000 tấn), hàng trăm giống hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng và hơn 300 giống lan. Công nghiệp chế biến nổi bật với rượu vang, trà atisô, mứt hoa quả, tiểu thủ công nghiệp dệt chiếu Lạch, chạm khắc gỗ. Mạng lưới giao thông đối ngoại kết nối qua Quốc lộ 20 và Cảng hàng không Liên Khương.
  • Khai thác thực tế các khu điểm du lịch: Khảo sát chi tiết mô hình khai thác tại Khu du lịch Langbiang (dịch vụ xe Jeep, Thung lũng Trăm năm, giao lưu văn hóa cồng chiêng người Cơ Ho), Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm (1 trong 21 khu du lịch quốc gia, gắn với Thiền viện Trúc Lâm, dã ngoại Đá Tiên, Nam Qua, Dalat Tourist, quản lý 5 con voi thuần dưỡng, triển khai quy hoạch điều chỉnh đến 2010 tầm nhìn 2020 của UBND tỉnh) và Thác Hang Cọp.
  • Hiện trạng phát triển và tác động kinh tế - xã hội: Năm 2007, ngành du lịch và dịch vụ chiếm 70% tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Đà Lạt; nguồn thu từ lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch đóng góp trên 70% tổng ngân sách thành phố. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đà Lạt đạt 17%, giá trị sản xuất công nghiệp thực tế đạt 2.047,4 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 42,7 triệu USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 26,6 triệu đồng/năm. Hoạt động du lịch Đà Lạt giữ vai trò đầu tàu chi phối toàn bộ các chỉ tiêu doanh thu, lưu trú và giải quyết việc làm của tỉnh Lâm Đồng, thúc đẩy tiêu thụ nông sản - đặc sản, mở rộng giao lưu văn hóa và nâng cao dân trí.

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch thành phố Đà Lạt

Chương cuối cùng đề xuất khung định hướng và hệ thống giải pháp tổ chức thực hiện:

  • Căn cứ và quan điểm phát triển: Dựa trên các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định của UBND tỉnh Lâm Đồng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành du lịch; quán triệt quan điểm phát triển du lịch bền vững trên ba phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường.
  • Định hướng phát triển theo ngành và lãnh thổ: Dự báo tốc độ tăng trưởng nguồn khách nội địa và quốc tế; định hướng đầu tư mạng lưới cơ sở hạ tầng, nâng cấp giao thông đô thị và cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp; đa dạng hóa sản phẩm du lịch theo các loại hình: du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao mạo hiểm, du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch hội nghị - hội thảo (MICE) kết hợp nghiên cứu khoa học; định hướng phân vùng khai thác không gian lãnh thổ du lịch thành phố gắn kết với các vệ tinh trong tỉnh.
  • Sáu nhóm giải pháp và chính sách thực hiện:
    1. Đầu tư tôn tạo, khai thác và bảo vệ tài nguyên: Quy hoạch bảo tồn cảnh quan rừng thông, hồ nước, tôn tạo các biệt thự kiến trúc cổ và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các điểm tham quan.
    2. Tuyên truyền và quảng bá du lịch: Đẩy mạnh xúc tiến hình ảnh Đà Lạt qua các phương tiện truyền thông, xuất bản phẩm, internet và tham gia các hội chợ du lịch trong nước, quốc tế.
    3. Công tác quản lý nhà nước về du lịch: Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc niêm yết giá, chống tình trạng ép giá phòng dịp cao điểm; hoàn thiện quy hoạch chi tiết các khu điểm du lịch.
    4. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng ngoại ngữ, nghiệp vụ lữ hành - khách sạn cho đội ngũ lao động trực tiếp thông qua hệ thống các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn.
    5. Nguồn vốn và chính sách hỗ trợ: Thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khu vực tư nhân; ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư hạ tầng du lịch chất lượng cao.
    6. Giải pháp về thị trường: Chủ động phân đoạn thị trường mục tiêu, duy trì thị trường khách truyền thống nội địa và đẩy mạnh thu hút thị trường quốc tế có khả năng chi trả cao (Nga, Hàn Quốc, các nước Đông Bắc Á, ASEAN).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất, lượng hóa hệ thống số liệu kinh tế - du lịch giữa thành phố Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng, phản ánh qua bảng tổng hợp sau:

Tiêu chí / Chỉ số Toàn tỉnh Lâm Đồng Thành phố Đà Lạt
Diện tích tự nhiên 9.772,19 km² 394,64 km² (chiếm ~4,04% diện tích tỉnh)
Quy mô dân số (năm 2011) 1.200.700 người 211.000 người (chiếm ~17,57% dân số tỉnh)
Đơn vị hành chính 12 huyện/thành phố; 149 xã, phường, thị trấn 12 phường, 4 xã
Cơ cấu kinh tế ngành dịch vụ Du lịch - dịch vụ là 1 trong 5 thế mạnh trụ cột Dịch vụ chiếm 70% GDP (năm 2007); đóng góp >70% ngân sách
Cơ sở lưu trú du lịch (đến 2012) 749 cơ sở (11.975 phòng, sức chứa 40.000 khách/ngày) Tập trung phần lớn cơ sở lưu trú và khách sạn cao cấp 3-5 sao
Tỷ lệ cơ sở lưu trú xếp hạng sao 202 khách sạn 1-5 sao (5.791 phòng); 21 khách sạn 3-5 sao Chiếm tuyệt đại đa số khách sạn đạt chuẩn của tỉnh
Lượng khách du lịch (năm 2012) 3,8 triệu lượt (khách quốc tế: 200.600 lượt) Đóng vai trò điểm đến trung tâm đón tiếp hầu hết lượng khách
Doanh thu xã hội du lịch (2012) Ước khoảng 6.000 tỷ đồng Chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh

Các kết quả và đóng góp chủ yếu của tác giả bao gồm:

  • Luận giải chi tiết mối quan hệ phụ thuộc giữa tài nguyên thiên nhiên đặc thù (khí hậu mát mẻ cận nhiệt đới quanh năm không quá 20°C, 28.909 ha đất lâm nghiệp, hệ thống thác ghềnh và hồ cảnh quan) với việc định hình các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, dã ngoại sinh thái đặc thù của Đà Lạt.
  • Khảo cứu và phân loại có hệ thống 2.000 biệt thự cổ theo 4 phong cách kiến trúc đặc trưng của Pháp (Savoie, Normandie, Pays Basque, Bretagne), xem đây là nguồn tài nguyên nhân văn cốt lõi cần được bảo tồn và khai thác thành chuỗi lưu trú cao cấp.
  • Đóng góp so với các công trình đi trước: Đề tài đã khắc phục hạn chế mô tả địa danh đơn thuần của cuốn sách "Địa chí Lâm Đồng" (2001), vượt qua giới hạn chỉ nghiên cứu nội tại đô thị của tác giả Trần Thái Bảo (2007) và tính khái quát chung chung cấp tỉnh của tác giả Đinh Thị Nga. Khóa luận đã kết nối chặt chẽ vai trò hạt nhân của du lịch Đà Lạt đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng lao động và phát triển xã hội của toàn tỉnh Lâm Đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Giới hạn dữ liệu nghiên cứu tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2005 – 2011, một số dữ liệu cập nhật năm 2012 và đầu năm 2013 chưa tạo thành chuỗi số liệu thống nhất trên toàn bộ các chỉ tiêu. Phương pháp dự báo phụ thuộc vào biến động kinh tế - xã hội vĩ mô nên mang tính xác suất. Khóa luận chưa đi sâu lượng hóa chi tiết mức độ suy thoái môi trường tự nhiên tại các khu điểm du lịch tập trung đông khách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu thứ cấp và sơ cấp sau năm 2013; mở rộng nghiên cứu đánh giá sức chứa du lịch sinh thái (carrying capacity) của hệ thống rừng thông và hồ nước Đà Lạt; phân tích chuyên sâu tác động của quá trình bê tông hóa, đô thị hóa nông nghiệp (nhà kính trồng hoa, rau) tới cảnh quan và vi khí hậu đặc trưng của thành phố.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lí học, Địa lí kinh tế, Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, cũng như các nhà nghiên cứu về quy hoạch phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Khung phương pháp luận địa lí áp dụng trong phân tích tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đô thị cao nguyên.
  • Phương pháp phân tích hệ thống kiến trúc thuộc địa Pháp tại Đà Lạt dưới góc độ tài nguyên du lịch nhân văn.
  • Nguồn số liệu thứ cấp chi tiết về thực trạng mạng lưới lưu trú, cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế của thành phố Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2005 – 2011.
  • Hệ thống 6 nhóm giải pháp quản lý nhà nước về du lịch và bảo vệ tài nguyên mang tính thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý ngành tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào văn bản pháp lý nào để phân loại và xác định tiêu chuẩn điểm du lịch? Tác giả căn cứ vào Luật Du lịch Việt Nam ban hành năm 2005. Theo đó, điểm du lịch quốc gia phải bảo đảm kết cấu hạ tầng, dịch vụ cần thiết và có khả năng phục vụ ít nhất 100.000 lượt khách tham quan/năm; điểm du lịch địa phương phải có hạ tầng và dịch vụ bảo đảm phục vụ ít nhất trên 10.000 lượt khách tham quan/năm.

2. Quần thể khoảng 2.000 biệt thự cổ tại Đà Lạt được tác giả phân chia theo những phong cách kiến trúc Pháp nào? Khóa luận xác định 4 phong cách kiến trúc Pháp đặc trưng tại Đà Lạt: kiến trúc vùng Savoie (xây gạch đá tầng trệt, tầng trên bằng gỗ có ban công rộng), kiến trúc vùng Normandie (mái ngói bẻ góc, tường xây đá che đến bệ cửa, phần trên lộ khung sườn gỗ), kiến trúc vùng Pays Basque (tường lồi quay ra mặt tiền, khung sườn nổi, mái nhô rộng ra khỏi tường) và kiến trúc vùng Bretagne (mái lợp phiến đá, tường đá che).

3. Điều kiện tự nhiên của Đà Lạt có ảnh hưởng như thế nào đến tính mùa vụ của hoạt động du lịch? Đà Lạt có khí hậu ôn hòa quanh năm (nhiệt độ trung bình tháng không quá 20°C, mùa đông trên 14°C) rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng quanh năm. Tuy nhiên, chế độ mưa chia làm 2 mùa rõ rệt, trong đó mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, đặc biệt các tháng 7 và tháng 8 có mưa kéo dài liên tục, gây gián đoạn và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các loại hình du lịch dã ngoại ngoài trời.

4. Thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú của tỉnh Lâm Đồng và TP. Đà Lạt giai đoạn 2011 – 2012 bộc lộ những bất cập gì? Đến năm 2012, toàn tỉnh có 749 cơ sở lưu trú với 11.975 phòng, nhưng số lượng cơ sở quy mô nhỏ dạng hộ gia đình, thiếu chuyên nghiệp và không đăng ký theo quy định còn nhiều. Khách sạn được xếp hạng 1-5 sao chỉ chiếm 27% tổng số cơ sở lưu trú; khách sạn 3-5 sao chỉ chiếm 2,8% toàn tỉnh (21 khách sạn với 1.520 phòng). Vào các dịp lễ tết vẫn xảy ra hiện tượng đầu cơ buồng phòng, ép giá khách du lịch.

5. Sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao của Đà Lạt đóng vai trò gì trong chuỗi giá trị du lịch của địa phương? Với sản lượng gần 200.000 tấn rau quả/năm và hàng trăm giống hoa ôn đới (hoa hồng, hoa cúc, trên 300 giống địa lan và lan tự nhiên), nông nghiệp công nghệ cao cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú cho ẩm thực đặc sản (rượu vang, trà atisô, mứt hoa quả), tạo tiền đề tổ chức định kỳ Lễ hội Festival Hoa và phát triển các tour du lịch canh nông, tham quan cơ sở sản xuất rau hoa.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Ka Thuy đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận địa lí du lịch và đánh giá sâu sắc thực trạng phát triển du lịch thành phố Đà Lạt giai đoạn 2005 – 2011. Công trình chứng minh rõ nét vai trò động lực hạt nhân của du lịch Đà Lạt đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho toàn tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời, hệ thống 6 nhóm giải pháp và định hướng phát triển bền vững do tác giả đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác quản lý và quy hoạch du lịch địa phương.