CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE VE CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm đu lịch Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa — xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thảnh một ngảnh kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Thuật ngữ “du lịch” ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới, nó bắt nguồn từ tiếng pháp: “Tuor” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự chuyển chỗ của họ.
Vậy du lịch là gì? Trong vòng hơn 8 thập kỷ vừa qua, ké từ khi thanh lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO( International Union of Official Travel Oragnization) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi giải trí hay chữa bệnh. Ngày nay người ta đã thống nhất về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước trừ việc đi cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều mang ý nghĩa du lịch. Hiện nay, trên thế giới vẫn có nhiêu quan niệm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu đu lịch.
Theo Hiệp hội du lịch thế giới thì “Du lịch là quá trình hoạt động của con người roi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu 1a thẩm định những giá trị vật chất và tỉnh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương họ chứ không nhằm mục đích sinh lợi tính trên đồng tiền”, Trang 13 Theo định nghĩa của I. Pirojnik (Co sở địa lí dịch vụ va du lich, 1985): “Du lịch là một đạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự đi chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thé chất và tinh than, nâng cao trình độ nhận thức — văn hóa hoặc thé thao kém theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa. ”] Trong luật du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), tại điều 4, chương | định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hieu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định".Í'*) Từ những phân tích nói trên, chúng ta có thể xác định khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thé chất tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức — văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. Tài nguyên du lịch Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt.
Tài nguyên du lịch(TNDL) ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lich.!"*) Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần khác nhau của cảnh quan tự nhiên hay cảnh quan nhân văn (văn hóa) có thể được sử dụng cho mục đích du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch. Xét về cơ cấu TNDL, có thể phân thành 2 bộ phận hợp thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài ngyên du lịch nhân van.'"*! Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, bởi vì những thay đổi về cơ cấu và chat lượng nhu cau đã lôi cuốn vào hoạt động nảy những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như tính chất văn hóa, lịch sử. Nó là một phạm trù động, bởi vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tùy thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết Trang 14 về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu. Khi đánh giá tài nguyên và xác định hướng khai thác, cần phải tinh đến những thay đổi trong tương lai vé nhu cầu cũng như khả năng kinh tế - kỹ thuật trong việc sử dụng các loại tài nguyên nay.
Từ những điều trên thì ta có thể xác định được TNDL như sau: Tài nguyên du lịch là những tổng thé tự nhiên, văn hóa - lịch sử và những thành phan của chúng giúp cho việc phục hỏi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe con người mà chúng được sử đụng trực tiếp hoặc gián tiếp để đào tạo ra địch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép. Điểm du lịch Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về mặt lãnh thổ, diém du lịch có quy mô nhỏ. Trên bản đồ các vùng du lịch người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt.
Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ, điểm du lịch vẫn chiếm một điện tích nhất định trong không gian. Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch (tự nhiên, văn hóa - lich sử hoặc kết hợp kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. '° Điểm du lịch có đầy đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia: Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch, có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100 ngìn lượt khách tham quan một năm .'*! Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây thì được công nhận là điểm du lịch địa phương: Có tải nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch, có kết cấu ha tang và dịch vụ cần thiết phục vụ ít nhất trên 10 ngìn lượt khách tham quan một năm!® Trang 15 1. Khu du lịch Là đơn vị tổ chức lãnh thé công nghiệp, kết hợp lãnh thé của các điểm du lịch giống hay khác nhau về chức năng, thuận tiện đi lại cho khách du lịch, có sức hấp dẫn lớn hơn điểm du lịch.
Vì thé khả năng lưu lại của đu khách lâu hơn. Cụm du lich tương đối đa dạng loại hình, đảm bảo an toản vẻ loại hình du lich. Tuyến du lịch Tuyến du lịch là lộ trình nối các điểm, các cụm hay khu du lịch khác nhau, nhưng thuận tiện về giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không, tuyến du lịch có thể nằm trọn trong một tiểu vùng, một vùng du lịch nhưng cũng có thể nằm trong vùng lãnh thổ du lịch khác nhau. Việc xác định các tuyến du lịch phải được căn cứ dựa vào một số chỉ tiêu sau: > Tài nguyên du lịch và sy hap dẫn của các cảnh quan trên toàn tuyến và các điểm dừng chân tham quan.
> Các khu nghi ngơi, vui chơi giải trí có khả năng thu hút khách du lịch. > Điều kiện về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật. > Sự trong sạch của môi trường, các điều kiện vẻ trật tự an toàn xã hội. Trên lả những tiêu chuẩn cơ bản quyết định thời gian du lịch (dài hay ngắn) của du khách đếi với từng khu du lịch cụ thể.
Chẳng hạn, nếu tuyến du lịch đi qua nhiều điểm du lịch có sự đa dạng, hấp dẫn của tải nguyên du lịch, hấp dẫn của tài nguyên nhưng đường giao thông xấu, thiếu cơ sở lưu tri đảm bảo thời gian của khách cho tuyến du lịch này sẽ không thể kéo dài được. Khái niệm về du lịch sinh thái Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải thiện, thực sự đã có một thời gian dai du lịch sinh thái là chủ dé nóng của các hội thảo vẻ chiến lược và chính sách bảo tồn va phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thé giới. Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như: Trang 16 Hector Ceballos-Lascurain- một nha nghiên cứu tiên phong vẻ du lịch sinh thái(DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: Nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh va giới động-thực vật hoang đã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ vả hiện tại) được khám phá trong những khu vực này”. Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái 14 hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tắc động tích cực đến việc bảo vệ môi trường va văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bao ton”.
Khái niệm về phát triển du lich bền vững Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tai mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các thé hệ mai sau. Du lịch bền vững là du lịch ma giảm thiểu các chi phi và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào. Khái niệm khách du lịch Trong hoạt động du lịch thì khách du lịch là một yếu tố cơ bản và là tiền dédé phát triển du lịch. Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam "khách du lịch” được hiểu là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hay hành nghề để kiếm thu nhập ở nơi đến Í°Ì Khách du lịch bao gồm khách du lịch trong nước va khách du lịch quốc tế.