Tổng quan luận án

Công trình "Hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện nay" là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số 62 38 01 01), do nghiên cứu sinh Phí Thị Thanh Tâm thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Hồng Thái.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự vận động thực tiễn của nền báo chí Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, bùng nổ công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế. Báo chí đã gia tăng nhanh chóng về số lượng, loại hình, phương thức truyền tải, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin xã hội và đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tuy nhiên, hoạt động báo chí cũng nảy sinh nhiều hạn chế như xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đăng tải thông tin và hình ảnh dung tục làm ảnh hưởng thuần phong mỹ tục, làm lộ bí mật nhà nước, cùng với sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận người làm báo.

Về phương diện pháp lý, sau 15 năm thi hành, Luật Báo chí năm 1989 (sửa đổi, bổ sung năm 1999) đã bộc lộ sự lạc hậu, được ví như một "chiếc áo quá chật" kìm hãm sự phát triển của báo chí. Nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh chưa được điều chỉnh thỏa đáng như mô hình tòa soạn điện tử, kinh tế báo chí, bản quyền, cơ chế cải chính, bảo vệ nguồn tin, nộp lưu chiểu và quy hoạch báo chí. Đặc biệt, việc ban hành Hiến pháp năm 2013 với những quy định mới về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa đồng bộ hệ thống pháp luật, trong đó việc sửa đổi Luật Báo chí và các đạo luật liên quan là nhiệm vụ trọng tâm được Quốc hội khóa XIII đưa vào chương trình lập pháp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ lý luận pháp lý về pháp luật báo chí, đặc biệt là việc đối chiếu với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và các chuẩn mực pháp luật quốc tế.

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng pháp luật về báo chí tại Việt Nam; chỉ ra những khoảng trống, bất cập; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về báo chí phù hợp với Hiến pháp năm 2013, thông lệ quốc tế và bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Phân tích lý thuyết và pháp luật quốc tế về báo chí, tự do báo chí, cơ chế pháp lý về quản lý nhà nước đối với báo chí của một số quốc gia trên thế giới, từ đó khái quát khung lý thuyết pháp luật về báo chí.
  2. Phân tích pháp luật hiện hành về báo chí của Việt Nam để chỉ ra nền tảng, cơ sở lý luận, thực tiễn và đánh giá mức độ tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế.
  3. Xác định những hạn chế trong pháp luật về báo chí của Việt Nam trên cơ sở so sánh với lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế, từ đó đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung phù hợp với đặc thù chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quan điểm, cơ sở lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về báo chí, thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí tại Việt Nam và một số quốc gia.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về báo chí; pháp luật báo chí của một số nước; thực trạng hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam; các định hướng và giải pháp hoàn thiện.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo cứu thực tiễn pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1945 đến nay, trọng tâm là giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2013 và các yêu cầu đặt ra sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực cho đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trước đây theo ba nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu về báo chí, nghiệp vụ và đạo đức nghề báo trong nước:

  • Giáo trình "Cơ sở lý luận báo chí" do PGS. TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên (1999) phân tích tính giai cấp, nguyên tắc, chức năng của báo chí và mối quan hệ giữa luật pháp với báo chí.
  • Kỷ yếu "Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn" (tập V) của Khoa Báo chí - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2005) đề cập vai trò lãnh đạo cơ quan báo chí, đạo đức nghề nghiệp và báo chí trong nền kinh tế tri thức.
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học "80 năm báo chí cách mạng Việt Nam - Những bài học lịch sử và định hướng phát triển" do Phân viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức (2005) tổng kết diện mạo và bài học lịch sử của báo chí cách mạng.
  • Giáo trình "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông" của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2007) cung cấp hệ thống khái niệm, phạm trù, đặc trưng và hiệu quả hoạt động báo chí truyền thông.
  • Đề tài khoa học của PGS.TS Vũ Duy Thông về nâng cao trình độ cán bộ báo chí; đề tài của PGS.TS Trần Quang Nhiếp về hiệu quả của báo chí trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng; đề tài của TS. Hà Thị Vinh về lãnh đạo, quản lý báo mạng.
  • Sách chuyên khảo "Đạo đức nghề báo - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do PGS. TS Hoàng Đình Cúc chủ biên (2013); các công trình của TS. Nguyễn Thị Trường Giang về "Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản" (2014) và "100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới" (2014).
  • Luận án tiến sĩ "Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới" của TS. Nguyễn Vũ Tiến (2003); bài viết của Dương Xuân Nam (2014) và Huy Vũ (2014) về kinh tế báo chí và đạo đức làm báo trong cơ chế thị trường.

Nhóm các công trình liên quan trực tiếp và gián tiếp đến pháp luật về báo chí:

  • Giáo trình "Lý luận và pháp luật về quyền con người" do GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng chủ biên (2011); cuốn "Tư tưởng về quyền con người - Tuyển tập thế giới và Việt Nam" (2011) và "Tiếp cận thông tin: Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam" (2011) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội làm rõ quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người.
  • Sách "Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí" của Lê Thanh Bình và Phí Thị Thanh Tâm (2009); cuốn "Quản lý và phát triển báo chí xuất bản" (2004) và bài viết (2009) của PGS.TS Lê Thanh Bình.
  • Các bài viết học thuật của Lê Doãn Hợp (2007), Hoàng Anh (2012), Phí Thị Thanh Tâm (2012), GS.TS Nguyễn Minh Thuyết (2014), Thu Thảo (2015), Lê Ngọc Đức (2015) phân tích các bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất sửa đổi Luật Báo chí.

Nhóm các công trình nghiên cứu trên thế giới:

  • Sách "Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và nghịch lý" của X.Mikhailốp (2004); "Nghiệp vụ báo chí: Lý luận và thực tiễn" của V. Vôrôsilốp (2004).
  • "Media Law Handbook" của Jane Kirtley (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2010); các tiểu luận của John W. Johnson và Salvio Waisbord trong cuốn "Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến" (2012).
  • Các ấn phẩm chuyên đề của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: "Báo chí và đạo đức" (2001), "Định nghĩa về tự do Internet" (2010), "Truyền thông tạo sự thay đổi" (2007).
  • Công trình "Bốn học thuyết truyền thông" của Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm (2014) phân tích 4 mô hình: thuyết độc đoán, thuyết tự do, thuyết trách nhiệm xã hội và thuyết toàn trị Xô Viết.

Khoảng trống mà luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ của hoạt động báo chí hoặc được công bố trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013. Luận án này tập trung giải quyết đồng bộ cơ sở lý luận nền tảng, mối quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, mô hình cơ quan báo chí trong nền kinh tế thị trường, các chế định bảo vệ nguồn tin, quyền tiếp cận thông tin, bảo vệ đời tư và xử lý vi phạm hành chính, đặt trong sự tương thích với Hiến pháp năm 2013 và các công ước quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Về lý thuyết chuyên ngành, tác giả tiếp thu có chọn lọc các học thuyết pháp lý và chính trị học cổ điển và hiện đại:

  • Thuyết "chủ quyền nhân dân" và "quyền tự nhiên của con người" của John Locke.
  • Tư tưởng trong "Luận về tự do xuất bản" (1644) của John Milton về việc để các ý tưởng cạnh tranh công khai, vận hành theo cơ chế "thị trường mở cho các ý tưởng" và "quá trình tự cân bằng".
  • Tư tưởng của John Erskine về bảo vệ sự trung thực trong biểu đạt ý kiến; chủ nghĩa thực lợi của John Stuart Mill về quyền tự do cá nhân phục vụ lợi ích cộng đồng.
  • Quan điểm của Thomas Jefferson về việc báo chí đóng vai trò kiểm soát, ngăn ngừa nhà nước lạm quyền trong nền dân chủ.

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ:

  • Báo chí: Phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, bao gồm những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội, do các chủ thể báo chí hợp pháp ấn hành.
  • Tự do báo chí: Một trong những quyền căn bản nhất của con người; thể hiện quan điểm, ý chí, tình cảm trước các vấn đề của đời sống xã hội qua phương tiện thông tin đại chúng mà không bị lệ thuộc, hạn chế, can thiệp trái luật; được các công ước quốc tế, hiến pháp và pháp luật quốc gia công nhận.
  • Sáu đặc điểm của thuyết tự do báo chí: (1) Hạn chế sự kiểm duyệt trước của nhà nước (dẫn quan điểm của William Blackstone, Leonard Sussman, báo cáo UNESCO năm 1980); (2) Bảo vệ nguồn tin mật của nhà báo (vụ việc án lệ nhà báo Miller); (3) Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân và báo chí (Điều 19 ICCPR, Điều 9 Công ước Liên minh châu Phi về phòng chống tham nhũng); (4) Thừa nhận cạnh tranh tự do trên thị trường ý tưởng và nguồn thu quảng cáo; (5) Vận hành công cụ tự điều tiết (Hội đồng báo chí, Bộ quy tắc đạo đức, Thanh tra viên); (6) Đề cao trách nhiệm xã hội của báo chí (Joseph Pulitzer, 5 tiêu chí của Ủy ban Tự do Báo chí).
  • Khung giới hạn quyền tự do báo chí: Quyền tự do báo chí không phải là quyền tuyệt đối mà chịu sự giới hạn theo luật định nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng (theo Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948, Điều 10 Công ước châu Âu về Nhân quyền, Hiến pháp Senegal, Hiến pháp Kyrgyzstan). Các giới hạn chính đáng bao gồm: Bảo vệ danh dự cá nhân (pháp luật Thổ Nhĩ Kỳ, Cameroon, Argentina, Đạo luật năm 1881 của Pháp; phân biệt giữa dân thường và nhân vật của công chúng); Bảo vệ quyền riêng tư (tiểu luận của Samuel Warren và Louis Brandeis năm 1890, 4 hành vi xâm phạm của William Prosser năm 1960); Cấm truyền bá văn hóa phẩm khiêu dâm (Luật Anh năm 1959, án lệ Tòa án Tối cao Hoa Kỳ năm 1973, luật hình sự Đức); Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp hệ thống: Triển khai xuyên suốt bố cục 4 chương để đảm bảo tính logic giữa lý luận, thực trạng và giải pháp.
  • Phương pháp luật học so sánh: Áp dụng chủ yếu tại Chương 2 để phân tích kinh nghiệm lập pháp và quản lý báo chí của các quốc gia.
  • Phương pháp lịch sử: Sử dụng tại Chương 3 để điểm lại quá trình phát triển của pháp luật báo chí Việt Nam qua các thời kỳ (1945–1986 và 1986–2013).
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng tại Chương 2, 3 và 4 để tổng hợp dữ liệu thực tiễn về cơ quan báo chí, người làm báo, hạ tầng Internet và các vụ việc vi phạm bị xử lý.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để đánh giá quy định pháp luật và xây dựng luận điểm đề xuất.

Nguồn tư liệu, dữ liệu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Luật Báo chí 1989, 1999; các nghị định, thông tư); các văn kiện điều ước quốc tế (UDHR 1948, ICCPR 1966, ECHR 1950); báo cáo thực tiễn và số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam giai đoạn 1998 - 2013.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 khái quát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân loại thành các nhóm nghiên cứu về nghiệp vụ - đạo đức báo chí, pháp luật báo chí và các học thuyết truyền thông quốc tế. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học cần tiếp tục làm rõ, bao gồm việc xây dựng khung lý thuyết pháp luật về báo chí, phân tích giới hạn tự do báo chí, làm sáng tỏ các mối quan hệ đặc thù trong hệ thống chính trị Việt Nam và cập nhật các nguyên tắc hiến định mới của Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, chương này xác lập cơ sở lý thuyết dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các học thuyết pháp lý tiến bộ của thế giới làm nền tảng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam

Chương 2 tập trung luận giải các khái niệm nền tảng về báo chí, truyền thông đại chúng và quyền tự do báo chí. Tác giả phân tích lịch sử hình thành tư tưởng tự do báo chí từ thế kỷ XVII đến nay, các đặc điểm của thuyết tự do báo chí (chống kiểm duyệt trước, bảo vệ nguồn tin bí mật, tự do tiếp cận thông tin, tự điều tiết nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội) và các căn cứ hợp pháp để giới hạn quyền này (bảo vệ danh dự cá nhân, quyền riêng tư, cấm văn hóa phẩm đồi trụy, an ninh quốc gia).

Chương 2 làm rõ đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về báo chí trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hoạt động báo chí, xác định thẩm quyền quản lý nhà nước và bảo đảm quyền tự do biểu đạt của công dân. Đồng thời, tác giả xác lập hai nhóm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về báo chí:

  • Tiêu chí chung: Tính toàn diện, tính thống nhất, tính đồng bộ, tính khả thi và tính khoa học của hệ thống văn bản.
  • Tiêu chí cụ thể: Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng; mở rộng và bảo đảm thực thi quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận của công dân theo chuẩn mực Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế; đảm bảo tính minh bạch, công khai; hạn chế sự can thiệp hành chính bất hợp lý; quy định rõ ràng trách nhiệm pháp lý và đạo đức của người làm báo. Chương này cũng phân tích pháp luật báo chí của một số quốc gia (như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Bỉ, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Senegal, Kyrgyzstan) để rút ra bài học kinh nghiệm về quản lý và kỹ thuật lập pháp cho Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về báo chí ở Việt Nam

Chương 3 tái hiện tiến trình phát triển của pháp luật báo chí Việt Nam từ năm 1945 đến nay qua hai giai đoạn lớn (1945–1986 và 1986–2013), đồng thời phân tích các quy định liên quan đến báo chí trong Hiến pháp năm 2013. Tác giả chỉ ra 6 nhóm hạn chế cơ bản của hệ thống pháp luật báo chí hiện hành:

  1. Hệ thống văn bản tản mát, nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều cấp độ hiệu lực khác nhau.
  2. Một số quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành.
  3. Quy định pháp luật chưa bắt kịp sự thay đổi của thực tiễn, nhất là sự phát triển của báo mạng điện tử, mô hình tổ hợp truyền thông đa phương tiện.
  4. Chậm trễ trong việc điều chỉnh các vấn đề bức xúc phát sinh trong hoạt động báo chí như kinh tế báo chí, bản quyền, quảng cáo và quy hoạch cơ quan báo chí.
  5. Nhiều quy định còn mang tính định tính, thiếu cụ thể (như cơ chế bảo vệ nguồn tin, thủ tục cải chính, giải quyết khiếu nại báo chí).
  6. Một số điều khoản chưa tương thích và chưa thể chế hóa đầy đủ các quyền hiến định về quyền con người và quyền tiếp cận thông tin theo Hiến pháp năm 2013.

Bên cạnh đó, chương 3 phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập và chỉ rõ các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan (như nhận thức lý luận chưa theo kịp thực tiễn, năng lực cán bộ quản lý còn hạn chế, sự phối hợp giữa cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý chưa chặt chẽ).

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam

Chương 4 phân tích các yếu tố tác động và tính tất yếu phải hoàn thiện pháp luật báo chí trước xu thế số hóa và hội nhập. Tác giả sử dụng hệ thống số liệu thực chứng để chứng minh sự phát triển vượt bậc của nền báo chí cũng như sự gia tăng của các hành vi vi phạm pháp luật:

Số hiệu Tên bảng / biểu đồ dữ liệu Giai đoạn thống kê
Biểu đồ 4.1 Sự phát triển về số lượng các cơ quan báo chí 1998 – tháng 2/2013
Biểu đồ 4.2 Tăng trưởng thuê bao Internet ở Việt Nam (tính theo số người sử dụng) Đến năm 2013
Biểu đồ 4.3 Tổng số nhà báo được cấp thẻ 1998 – tháng 2/2013
Biểu đồ 4.4 Số nhà báo bị thu thẻ 1998 – tháng 2/2013
Biểu đồ 4.5 Tổng số vụ vi phạm và đã được xử lý về báo chí 1998 – 2012

Trên cơ sở phân tích số liệu và bối cảnh thực tế, tác giả đề xuất các quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Về quan điểm: Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; thể chế hóa đầy đủ tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền tự do báo chí; đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước bằng pháp luật; kết hợp hài hòa giữa tự do báo chí với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
  • Về giải pháp lập pháp:
    • Sửa đổi toàn diện Luật Báo chí: Làm rõ địa vị pháp lý và mô hình tổ chức của cơ quan báo chí; xác định rõ quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; quy định cụ thể quyền tiếp cận thông tin, bảo vệ nguồn tin mật; hoàn thiện chế định quyền cải chính, xin lỗi công khai; quy định rõ về kinh tế báo chí, hoạt động liên kết, bản quyền và báo điện tử; phân định ranh giới giữa kiểm duyệt trái luật và xử lý vi phạm pháp luật sau xuất bản.
    • Sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các đạo luật liên quan: Đẩy nhanh việc xây dựng Luật Tiếp cận thông tin, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; hoàn thiện Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính để bảo đảm sự đồng bộ với Luật Báo chí.
  • Về các giải pháp đảm bảo thực thi:
    • Tiến hành rà soát, hệ thống hóa và pháp điển hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về báo chí.
    • Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lập pháp và đào tạo báo chí.
    • Cải cách bộ máy và cơ chế quản lý nhà nước về báo chí theo hướng tinh gọn, phân định rõ chức năng giữa cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông) và cơ quan chủ quản báo chí.
    • Nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực quản lý và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí và người làm báo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Làm rõ khái niệm pháp luật về báo chí, quyền tự do báo chí; phân tích các đặc trưng cốt lõi của thuyết tự do báo chí, các giới hạn chính đáng của quyền tự do báo chí và xác lập hệ thống tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật báo chí tại Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
  2. Nhận diện và phân tích có hệ thống những hạn chế, mâu thuẫn, khoảng trống của hệ thống pháp luật về báo chí hiện hành ở Việt Nam thông qua việc đối chiếu trực tiếp với các nguyên tắc hiến định năm 2013.
  3. Tổng kết các bài học kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp, quản lý báo chí và cơ chế tự điều tiết của một số quốc gia trên thế giới, chỉ ra những nội dung có khả năng vận dụng phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
  4. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về báo chí, trong đó tập trung vào việc sửa đổi căn bản Luật Báo chí hiện hành và ban hành các đạo luật hỗ trợ (Luật Tiếp cận thông tin, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi, luận án được thực hiện dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, tập trung vào khuôn khổ thể chế và văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ vĩ mô. Do đó, luận án không đi sâu vào các khía cạnh nghiệp vụ báo chí học thuần túy hoặc kỹ thuật truyền dẫn đa phương tiện. Đồng thời, do giới hạn tư liệu và thời gian, việc khảo cứu kinh nghiệm quốc tế chỉ dừng lại ở một số quốc gia tiêu biểu.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở bao gồm:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành sau khi Luật Báo chí mới được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến nội dung báo chí tại Tòa án và vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm báo chí số trên không gian mạng.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và các ban soạn thảo: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn trực tiếp phục vụ việc soạn thảo, thẩm tra và hoàn thiện Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) cùng các dự án luật như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông: Hỗ trợ Bộ Thông tin và Truyền thông, các Sở Thông tin và Truyền thông trong việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật, cải cách cơ chế quản lý và hoạch định quy hoạch báo chí toàn quốc.
  • Cơ quan báo chí và Hội Nhà báo: Cung cấp tài liệu tham khảo để xây dựng, chuẩn hóa quy chế hoạt động tòa soạn, củng cố quy tắc đạo đức nghề nghiệp và nâng cao nhận thức pháp lý cho các nhà báo.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về luật hiến pháp, quyền con người, lý luận nhà nước và pháp luật, cũng như luật truyền thông tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa Báo chí và Pháp luật về báo chí như thế nào? Báo chí được định nghĩa là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, bao gồm các ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự, được phát hành rộng rãi trong xã hội bởi các chủ thể báo chí hợp pháp. Pháp luật về báo chí là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động báo chí, xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động báo chí.

2. Thuyết tự do báo chí có những đặc điểm cốt lõi nào được luận án phân tích? Luận án chỉ ra 6 đặc điểm cốt lõi của thuyết tự do báo chí: (1) Hạn chế sự can thiệp và kiểm duyệt trước của nhà nước; (2) Bảo vệ nguồn tin mật của nhà báo; (3) Đảm bảo tối đa quyền tiếp cận thông tin, nhất là thông tin từ các cơ quan công quyền; (4) Cạnh tranh tự do trên thị trường ý tưởng và tự chủ tài chính qua quảng cáo; (5) Kiểm soát hoạt động nghề nghiệp bằng cơ chế tự điều tiết (Hội đồng báo chí, Quy tắc đạo đức, Thanh tra viên); (6) Đề cao trách nhiệm xã hội và đạo đức của báo chí trước công chúng.

3. Quyền tự do báo chí chịu những giới hạn pháp lý chính đáng nào? Theo luận án, tự do báo chí không phải là quyền tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các lý do chính đáng: (1) Bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân (thông qua luật chống phỉ báng, vu khống); (2) Bảo vệ quyền riêng tư của công dân trước sự xâm phạm thương mại hóa thông tin; (3) Cấm phát tán các văn hóa phẩm khiêu dâm, đồi trụy (nhất là bảo vệ trẻ em); (4) Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và ngăn ngừa tội phạm.

4. Vì sao Luật Báo chí năm 1989 (sửa đổi năm 1999) được coi là "chiếc áo quá chật"? Vì sau 15 năm thi hành, đạo luật này bộc lộ sự lạc hậu trước sự bùng nổ của báo điện tử, mạng xã hội và truyền thông số; thiếu vắng các quy định điều chỉnh kinh tế báo chí, bản quyền, cơ chế bảo vệ nguồn tin và thủ tục cải chính; chưa có sự phân định rõ ràng giữa các loại hình báo chí và mô hình tổ chức tòa soạn; đồng thời chưa thể chế hóa đầy đủ các quyền hiến định về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.

5. Luận án đề xuất sửa đổi những nội dung trọng tâm nào trong Luật Báo chí? Tác giả đề xuất tập trung sửa đổi: Làm rõ quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; quy định cụ thể quyền tiếp cận thông tin và cơ chế bảo vệ nguồn tin của nhà báo; bổ sung khung pháp lý cho báo điện tử, mô hình tổ hợp truyền thông và kinh tế báo chí; hoàn thiện chế định cải chính, giải quyết tranh chấp báo chí; đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý và cơ quan chủ quản báo chí.

Kết luận

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phí Thị Thanh Tâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật. Bằng việc kết hợp giữa lý luận quyền tự do báo chí, kinh nghiệm lập pháp quốc tế và khảo sát thực tiễn tại Việt Nam, luận án đã làm sáng tỏ hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật báo chí trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013. Các phân tích thực trạng và giải pháp lập pháp được đề xuất trong công trình là nguồn luận cứ khoa học có giá trị phục vụ trực tiếp cho quá trình xây dựng, sửa đổi Luật Báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan ở Việt Nam.