Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Qua thu thập, nghiên cứu, tổng hợp có hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập đến những nội dung có liên quan đến đề tài luận án “Quản lý nhà nước về báo chí điện tử ở Việt Nam hiện nay”, trong đó có một số những công trình nghiên cứu khoa học, bài viết tiêu biểu, trực tiếp và gián tiếp liên quan đến đề tài luận án nghiên cứu như sau: 1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án Trong thời gian qua, cùng với việc nghiên cứu về báo chí nói chung và báo chí điện tử (BCĐT) nói riêng, thì hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) đã được quan tâm nghiên cứu, thảo luận, trao đổi, tọa đàm khoa học ở nhiều hội nghị khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) nào quy định riêng cho lĩnh vực BCĐT và cũng chưa có một quyết định nào phê duyệt, quy hoạch phát triển và quản lý riêng cho BCĐT. Mà hầu hết các quy định về QLNN đối với BCĐT vẫn được quy định chung với báo chí và công tác quản lý sử dụng mạng Internet ở nước ta.
Chính vì vậy, trong luận án này tác giả sẽ tổng quan, phân tích, luận giải một số những công trình tiêu biểu về QLNN đối với báo chí và BCĐT cụ thể như sau: 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận án Cuốn sách "Quyền lực thứ tư và bốn đời Tổng Bí thư" (1995), từ Brêgiơnép đến Gioocbachốp trên báo "Pravđa": Sách tham khảo Victo Aphanaxép; người dịch: Nguyễn Tấn Việt, Hồ Qúy Truyện, Vũ Văn Thạch, (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội). Cuốn sách khái quát sự ra đời của báo chí và vị trí, vai trò to lớn của báo chí, trong các thể chế chính trị, trong xã hội; cuốn sách cũng làm rõ khái niệm quyền lực của báo chí đối với đời sống chính trị - xã hội; khẳng định các nhà lãnh đạo đã sử dụng báo chí trong xử lý công việc, trong giám sát, quản lý và coi đó như là một quyền lực để lãnh đạo kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia [1]. 7 luan an Cuốn sách "Truyền thông đại chúng - những kiến thức cơ bản" (2004), của tác giả Claudia, (NXB UVK Meiien Cộng hòa Liên bang Đức), Trần Hậu Thái dịch (NXB Thông tấn, Hà Nội).
Nội dung cuốn sách đề cập những vấn đề cơ bản như: khái niệm về thông tin - truyền thông; các phương tiện thông tin; hoạt động thông tin, đối tượng thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ đạo đức của người làm báo; nghề nghiệp báo chí và hoạt động truyền thông trong cơ chế thị trường; cũng như tôn chỉ, mục đích của nghề làm báo một số nước phát triển [2]. Sách "Cơ sở lý luận báo chí" (2007), GS, TS. Tạ Ngọc Tấn chủ biên (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội). Nội dung cuốn sách đề cập đến nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí (với các tính Đảng, tính quần chúng, tính chân thật) và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác báo chí.
Tác giả cũng chỉ ra được báo chí lả sản phẩm thuộc kiến trúc thượng tầng, ra đời và phát triển do nhu cầu thông tin của xã hội. Một mặt, báo chí được sử dụng như một phương tiện tuyên truyền, giáo dục, cổ động nhân dân, mặt khác, trở thành diễn đàn chung của mọi người về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, mọi đảng phái, tổ chức, lực lượng, đơn vị kinh tế xã hội đều sử dụng báo chí với tư cách như một phương tiện tuyên truyền phục vụ cho mục đích của mình [3]. Sách "Những vấn đề của báo chí hiện đại" (2007), của tác giả Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (NXB Lý luận chính trị, Hà Nội).
Cuốn sách đề cập đến 18 vấn đề liên quan đến hoạt động báo chí. Trong đó, tính nguyên tắc của hoạt động báo chí là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, cuốn sách khẳng đình rằng việc quản lý của nhà nước sẽ thúc đẩy nền báo chí cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn, chứ không làm hạn chế việc thông tin, tuyên truyền của báo chí; báo chí thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của báo chí đối với xã hội… Nhà nước quản lý báo chí là tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản, tạo môi trường tự do sáng tạo, bình đẳng để cho báo chí phát triển, đồng thời là hoạt động bảo đảm báo chí thực sự là diễn đàn, phương tiện để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, chống xu hướng thương mại hóa báo chí, giữ vững và phát triển nền văn hóa dân tộc, ngăn 8 luan an chặn, đẩy lùi các hoạt động báo chí không lành mạnh gây ra những hậu quả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa của dân tộc [4 ].Lênin, Hồ Chí Minh với báo chí" (2010), của GS. Hà Minh Đức (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội). Sách trình bày quan điểm của C.LLênin, Hồ Chí Minh về chức năng, đặc điểm, khuynh hướng chính trị xã hội của tác phẩm báo chí, báo chí dưới chế độ tư bản và báo chí của giai cấp vô sản… Bên cạnh đó, tác giả còn trình bày sự tiếp nhận và vận dụng sáng tạo quan điểm báo chí của C.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay; sự hình thành và phát triển lớn mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam theo đường lối của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng [126].
Cuốn sách "Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản" (2014), của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội). Cuốn sách đề cập đến một số vấn đề xung quanh báo điện tử như: Lịch sử ra đời, khái niệm, đặc điểm báo điện tử; sự khác nhau giữa báo điện tử với trang thông tin điện tử; vai trò của báo điện tử trong đời sống xã hội; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin của báo điện tử, những phẩm chất của nhà báo điện tử; cách viết, trình bày nội dung báo điện tử trong thời gian qua [60]. Sách "Mô hình hội tụ truyền thông của Kevin - L. Tác giả nêu một số khái niệm, đặc trưng, nguyên lý, quy luật phát triển về hội tụ mô hình truyền thông trên Internet của một số quốc gia trên thế giới.
Qua đây tác giả đã khái quát những đặc tính nổi bật của Internet so với các loại hình phương tiện truyền thông khác và dự báo xu hướng phát triển của Internet trong vài thập niên tới [127]. Đề tài cấp Bộ "Báo chí Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự" (1999) đề tài cấp bộ chủ nhiệm Nguyễn Phùng Hồng, (Cục Quản lý Khoa học, Bộ Công an). Đây là đề tài đầu tiên của ngành Công an nghiên cứu về báo chí trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự; đề tài tác giả đã khái quát vị trí, chức năng và tầm quan trọng của báo chí, những đóng góp của báo chí đối với cách 9 luan an mạng Việt Nam. Tác giả đưa ra những khái niệm về báo chí và các loại hình hoạt động của báo chí, những đặc điểm của báo chí cách mạng [118 ].
Luận văn thạc sỹ "Quản lý nhà nước về báo mạng điện tử Việt Nan hiện nay" (2015) của Nguyễn Thị Thanh Huyền, chuyên ngành báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Đây là luận văn có tên đề tài là báo mạng điện tử nên luận văn mới chỉ đưa ra một số khái niệm báo mạng điện tử và đặc điểm và vai trò của báo mạng điện tử; vai trò QLNN về báo mạng điện tử; quan điểm của Đảng và cơ sở pháp lý của hoạt động QLNN về báo mạng điện tử. Từ những nội dung đã nêu trên, cho thấy mức độ nghiên cứu của luận văn chưa sâu, chưa đánh giá được toàn diện các nội dung QLNN, chưa nghiên cứu phương thức quản lý nhà nước về báo chí điện tử và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí điện tử [124]. Nhóm các công trình tổng quan trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về QLNN đối với báo chí, truyền thông đại chúng và báo mạng điện tử.
Đó là những vấn đề lớn mà NCS cần quan tâm như: Khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và bản chất báo chí, báo điện tử và quản lý, QLNN về báo chí; tư tưởng chính trị - pháp lý của nhân loại; cơ sở pháp lý của báo chí, báo điện tử; các quyền cơ bản của con người đối với báo chí; mối quan hệ chính trị, đạo đức, với kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền; pháp luật quốc tế… Các tác giả làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đối với các nhóm đối tượng, trong từng lĩnh vực, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá, kết luận chung của QLNN đối với báo chí, báo điện tử. Đây sẽ là cơ sở để NCS kế thừa và phát huy nghiên cứu về QLNN đối với BCĐT. Tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài luận án Cuốn sách "Bốn học thuyết truyền thông" (1956) tại Mỹ, của tác giả Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm, tác giả nguyên là chủ nhiệm khoa truyền thông, Đại học Michigan, do dịch giả Lê Ngọc Sơn dịch (NXB Tri thức 2013).
Bốn học thuyết truyền thông đã được xác định các loại hình mà báo chí thế giới và phương Tây có: Thuyết độc đoán, thuyết tự do, thuyết trách 10 luan an nhiệm xã hội, thuyết toàn trị xô viết. Cuốn sách gồm bốn chương và nêu nên sự khác biệt trong hệ thống truyền thông giữa các nước một cách toàn diện nhất thì phải nhìn vào xã hội của mỗi nước. Để xem xét hệ thống xã hội trong mối quan hệ với báo chí phải xem xét niềm tin và quan niệm cơ bản của xã hội đó. Cuốn sách cung cấp một góc nhìn về các mô hình truyền thông báo chí, đưa ra được các nội dung bị cấm trong hoạt động truyền thông báo chí, đồng thời cuốn sách đưa ra 5 yêu cầu của ủy ban tự do báo chí với hoạt động báo chí và một số vấn đề khác trong hoạt động báo chí [128].
Cuốn sách "Between Freedom and Censorship: Asian Political Partics and Cyberspace" tạm dịch là "Giữa sự tự do và sự kiểm duyệt: Các dạng chính trị châu Á và không gian mạng" (2005), của Janies Gomez.