Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. KHÁI LƯỢC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Bảo vệ TTCN từ góc độ của quyền riêng tư, đã được quan tâm và đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu ở nước ta, tuy nhiên còn khá hạn chế. Bên cạnh một số ít các luận án, luận văn, sách, thì các công trình chủ yếu trong lĩnh vực này là các bài báo, tạp chí mà chưa có đề tài khoa học tầm cỡ nào quan tâm nghiên cứu.
Nhóm các công trình nghiên cứu bảo vệ thông tin cá nhân Luận văn Thạc sĩ của Vũ Anh Tuấn, Bảo mật và an toàn thông tin trong thương mại điện tử [105], là một nghiên cứu chuyên ngành công nghệ thông tin (CNTT). Tác giả đã khẳng định thương mại điện tử, nhất là đối với các giao dịch mang tính nhạy cảm cần phải có những cơ chế đảm bảo bảo mật và an toàn. Thành công của luận văn chính là việc có thể áp dụng các kết quả nghiên cứu để xây dựng các kỹ thuật bảo mật và an toàn trong thương mại điện tử với một số tính năng cơ bản như: hệ thống chứng thực, các cơ chế phân bố khoá tự động, mã hoá các thông tin, kỹ thuật ngăn ngừa các rủi ro trong thương mại điện tử. Đây là một gợi ý cho nghiên cứu sinh về phương thức bảo vệ TTCN dựa trên công nghệ.
Bài nghiên cứu của Bùi Thanh Liêm, ''Bảo vệ TTCN trên mạng: Vấn đề không thể xem nhẹ'' [49, tr. Trong bài viết này tác giả đã chỉ rõ thực trạng người dùng còn xem nhẹ việc bảo vệ TTCN trên mạng. Tác giả nêu lên qua việc khảo sát các trang mạng xã hội như Facebook, Voutube, Twitter, Zing Me, Tamtay.vn, website thương mại điện tử hay các trang rao vặt. và các trang blog cá nhân thì người dùng sẽ dễ dàng để lộ các TTCN.
Theo tác giả: thói quen và sự vô tư của người sử dụng có thể khiến họ dễ dàng bị vi phạm về TTCN. Tác giả cũng đã chỉ ra các cơ sở pháp lý để bảo vệ người tiêu dùng trên mạng qua việc phân tích các văn bản pháp luật và chỉ ra một số "mẹo" để người dùng có thể tự bảo vệ TTCN của mình một cách an toàn. Bài nghiên cứu của Hà Nguyên, ''Quyền riêng tư và được bảo mật thông tin của bệnh nhân'' [53]. Bài viết khẳng định nếu bệnh nhân không được đảm bảo những quyền đó thì họ sẽ e ngại thông báo cho thầy thuốc những thông tin có tính riêng tư mà lại có giá trị chẩn đoán và chữa trị cho bệnh nhân.
Khi nền Y học phát 9 triển, những loại bệnh xã hội, như bệnh lây nhiễm qua đường sinh hoạt tình dục, mang trong đó cả đạo đức, nhân phẩm của bệnh nhân trong quan hệ xã hội; các loại bệnh tâm thần, tâm lý, các căng thẳng từ mối quan hệ trong gia đình cộng đồng thì thông tin càng mang đặc tính riêng tư cao. Trong thời đại CNTT đa truyền thông tiến như vũ bão hiện nay, việc rò rỉ thông tin có tính cách riêng tư càng trở nên có nguy cơ cao hơn bao giờ hết, tính riêng tư và bảo mật của bệnh nhân cũng nằm trong mối nguy cơ đó. Tác giả cũng chỉ ra một số trường hợp ngoại lệ bác sĩ, chuyên viên quản lý hồ sơ bệnh lý có thể cung cấp thông tin mà không cần giấy uỷ quyền của đương sự. Bài viết này gợi mở cho luận án của nghiên cứu sinh về bảo vệ TTCN của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.
Bài nghiên cứu ''Các cơ hội kinh doanh trong nền kinh tế TTCN'' [56, tr. Đây là một bài viết được dịch từ tiếng nước ngoài và có sự đánh giá, nhận định về các cơ hội kinh doanh trong nền kinh tế TTCN toàn cầu. Bài viết đưa ra khái niệm: TTCN bao gồm các loại thông tin và dữ liệu khác nhau như nhận dạng số, các mối quan hệ, sở thích, hành vi, sức khoẻ, dữ liệu tài chính cũng như các dữ liệu do các tổ chức công cộng lưu giữ đồng thời gợi mở nhiều cơ hội kinh doanh liên quan đến TTCN. Trước những cơ hội kinh doanh liên quan đến TTCN, đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải xây dựng các dịch vụ và các nhu cầu kinh doanh dựa trên 3 thành phần chính: sự cho phép, minh bạch và chia sẻ giá trị.
Bài viết đã mang đến một cách nhìn nhận mới về TTCN, đó là nó có thể trở thành một sản phẩm thương mại và đem lại lợi ích cho con người trong thời đại ngày nay, nếu chúng ta đảm bảo được sự tôn trọng và không vi phạm các TTCN. Bài nghiên cứu của Cao Xuân Quảng, "Bảo vệ TTCN trong các giao dịch tiêu dùng" [59, tr. Tác giả đã nêu: TTCN trong thời đại kỹ thuật số bao gồm nhiều trường thông tin, trong đó đặc biệt quan trọng là các thông tin liên quan đến tài chính, đến số định danh hoặc các TTCN khác. Những thiệt hại phát sinh từ việc TTCN bị đánh cắp có quy mô rất lớn và ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều bên trong nền kinh tế".
Tác giả cũng khẳng định rõ việc đánh mất TTCN là mất tất cả, vì mất TTCN, nguy cơ với người tiêu dùng là thiệt hại trực tiếp về tài chính. Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn đứng trước nguy cơ bị tấn công từ những khía cạnh khác như: lừa đảo, giả mạo, bôi nhọ, xúc phạm… Với những nguy cơ này, trong nhiều trường hợp những thiệt hại sẽ là rất lớn về tài chính thậm chí không thể đo lường được bằng tiền. Trong bài viết tác giả cũng nêu rõ trách nhiệm của người tiêu dùng trong việc bảo vệ TTCN. 10 Bài nghiên cứu của Lê Thị Nhã, ''Bảo vệ quyền riêng tư nhìn từ trách nhiệm truyền thông'' [54, tr.
Trong bài viết này tác giả đi sâu vào tìm hiểu quyền riêng tư và việc bảo vệ quyền riêng tư qua những văn bản pháp luật hiện hành. Theo tác giả quyền riêng tư, bảo vệ bí mật đời tư được các nhà chuyên môn và dư luận xã hội đề cập đến khá nhiều trong thời gian gần đây. Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình liệu có được bảo đảm trước sự phát triển của CNTT và mạng xã hội? Đâu là ranh giới của báo chí với thông tin riêng tư? Bài viết đặc biệt đi sâu phân tích một số biểu hiện vi phạm quyền riêng tư trên các phương tiện truyền thông hiện nay. Tác giả cũng nêu lên những vấn đề gặp phải trong việc bảo vệ quyền riêng tư hiện nay khi truyền thông đưa tin, đó là: luật pháp chưa có hướng dẫn cụ thể về quyền riêng tư, bí mật đời tư; ý thức, trách nhiệm, đạo đức của những người làm báo chí truyền thông khi thông tin về những vấn đề riêng tư.
Nhóm các công trình nghiên cứu pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thị Hạnh, Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật dữ liệu cá nhân [43]. Đây là một nghiên cứu khá toàn diện đầu tiên ở nước ta về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật dữ liệu cá nhân (DLCN). Trong đề tài này, các tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật DLCN trong đó các tác giả đã nêu cụ thể về lịch sử hình thành quyền bí mật DLCN, khái niệm quyền bí mật DLCN, cũng như tầm quan trọng, đặc điểm, nội dung, mối quan hệ của quyền này và các quyền khác. Công trình nghiên cứu này cũng đã phân tích thực trạng của cơ chế thực hiện quyền bí mật DLCN ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp và kiến nghị đề xuất ban hành Luật bảo vệ DLCN.
Ưu điểm của đề tài là nghiên cứu cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bí mật DLCN ở Việt Nam có so sánh, đối chiếu và học tập kinh nghiệm từ các quốc gia và khu vực tiến bộ trên thế giới trong lĩnh vực này. Cuốn sách Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia của Thái Thị Tuyết Dung [25]. Cuốn sách đã đưa ra khái niệm quyền riêng tư và nội dung của nó, đồng thời cũng nêu lên lịch sử hình thành của khái niệm này. Tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm về quyền riêng tư và đã khẳng định khái niệm này đã ra đời và phát triển từ trước khi nó chính thức được công nhận là một quyền cơ bản trong các ĐƯQT.
Điểm nổi bật của cuốn sách là đã kể ra các văn bản quốc tế và các mô hình bảo vệ quyền riêng tư trên thế giới. Tác giả cũng đưa ra nhận xét rằng: cho đến nay ở Việt Nam quyền riêng tư của công dân vẫn là một chế định luật tương đối non trẻ và đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện. Tác giả cũng đề cập 11 đến quyền riêng tư trong mối quan hệ với quyền tiếp cận thông tin, cơ chế bảo mật trên internet. Cuốn sách đã mang đến những nội dung cơ bản về mặt lý luận, bước đầu đặt ra những nội dung cơ bản cho việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ TTCN.
Luận án của Lê Đình Nghị, Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam [51]. Tác giả đã khái quát quá trình phát triển trong quy định của pháp luật Việt Nam về quyền bí mật đời tư. Tác giả phân tích các khái niệm cụ thể như bí mật, đời tư, bí mật đời tư, quyền bí mật đời tư. Luận án đã phân tích so sánh dựa trên cơ sở đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra giải pháp HTPL quyền bí mật đời tư trong hệ thống các quyền nhân thân ở Việt Nam.
Công trình này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sâu về quyền bảo vệ bí mật đời tư trong một ngành luật đó là luật Dân sự. Luận văn của Võ Tuấn Anh, Bí mật đời tư, lý luận và thực tiễn [3]. Với kết quả nghiên cứu của Luận văn, tác giả đã góp phần giúp hiểu rõ hơn thế nào là bí mật đời tư, mức độ bảo vệ bí mật đời tư của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đến đâu để tránh tình trạng TTCN bị phơi bày cũng như tránh xúc phạm đến bí mật đời tư của người khác.