Tổng quan luận án

Luận án phó tiến sĩ khoa học luật học của tác giả Nguyễn Am Hiểu mang tiêu đề "Hoàn thiện luật kinh tế ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", được bảo vệ năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền. Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó tiến sĩ Dương Đăng Huệ (Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp) và Phó Giáo sư, Phó tiến sĩ Trần Ngọc Đường (Chủ nhiệm khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế (1986–1996). Văn bản chỉ rõ: cơ chế thị trường với nguyên lý "bàn tay vô hình" của Adam Smith bên cạnh mặt tích cực luôn đi kèm các khuyết tật tất yếu như cạnh tranh bất hợp pháp, hàng giả, đầu cơ, phân hóa giàu nghèo và ô nhiễm môi trường. Do đó, kinh tế thị trường đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước, trong đó pháp luật được xác định là phương tiện hàng đầu để điều tiết các quá trình kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng và ngăn chặn các khuyết tật thị trường.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam mang nhiều đặc thù nhưng chưa được hướng dẫn bởi một cơ sở lý thuyết chắc chắn và đầy đủ. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của luật kinh tế chưa được làm sáng tỏ; vai trò của luật kinh tế chưa phát huy hết; nhiều quy định tồn tại trên văn bản nhưng thiếu tính khả thi trong đời sống thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Làm rõ quan niệm về vị trí, vai trò của luật kinh tế trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích các đặc trưng của luật kinh tế trong mối quan hệ với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  3. Trên cơ sở phân tích thực trạng luật kinh tế những năm đầu đổi mới, đề ra các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện luật kinh tế Việt Nam, làm cho pháp luật trở thành công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu.

Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề cơ bản:

  1. Phân tích thực trạng hệ thống pháp luật kinh tế hiện hành.
  2. Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện luật kinh tế, nâng cao vai trò của luật kinh tế trong quản lý kinh tế.

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các quan hệ kinh tế và các quy phạm pháp luật kinh tế điều chỉnh nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn đầu đổi mới từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến thời điểm năm 1996, giới hạn trọng tâm vào quan niệm luật kinh tế theo nghĩa hẹp và các chế định chủ yếu về chủ thể kinh doanh, sở hữu, tự do kinh doanh, cạnh tranh, hợp đồng kinh tế và giải quyết tranh chấp.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Văn bản luận án đã tổng thuật và điểm lại các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về luật kinh tế trong và ngoài nước qua ba nhóm công trình chính:

  1. Nghiên cứu của các học giả tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển:

    • Friedrich Kübler và Jürgen Simon với công trình "Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hoà liên bang Đức" (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1992); Jürgen Simon với "Các vấn đề chính trong luật kinh tế" (Nhà xuất bản Luchterhand, 1986).
    • Reiner Schmidt với tác phẩm "Luật kinh tế công".
    • A. Schüller với công trình nghiên cứu về quyền sở hữu "Property rights" (Nhà xuất bản VSW, 1985).
    • Klaus J. Hopt với luận văn tiến sĩ "Bảo vệ người hùn vốn trong pháp luật ngân hàng".
    • Học thuyết tự do kinh tế của Adam Smith qua tác phẩm "An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations".
    • Các khảo cứu về tư nhân hóa và chuyển đổi doanh nghiệp của Charles Vuylsteke.
    • Các nghiên cứu phân loại hình thức công ty của Svante Johansson (Thụy Điển) và lý thuyết kinh tế doanh nghiệp của Gutenberg.
  2. Nghiên cứu của các học giả tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây:

    • Các luật gia Xô Viết: P. I. Stutschka (nghiên cứu cuối thập niên 1920 phân định luật dân sự và luật hành chính - kinh tế); N. Alexejew; E. B. Paschukanis (thập niên 1930); đặc biệt là W. W. Laptew (B. Laptew) – đại diện tiêu biểu cho trường phái luật kinh tế Xô Viết với định nghĩa luật kinh tế là một ngành luật độc lập điều chỉnh cả quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ sản xuất kinh doanh dựa trên sự kết hợp yếu tố kế hoạch và tài sản.
    • Các luật gia Cộng hòa Dân chủ Đức: Uwe-Jens Heuer, Hans Ulrich Hochbaum.
  3. Nghiên cứu tại Việt Nam và các dự án quốc tế:

    • Các học giả tiền bối đặt nền móng tiếp thu lý luận luật kinh tế: Tạ Hữu Khuê, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Niên, Trần Trọng Hựu.
    • Các nhà khoa học pháp lý đương thời sau Đại hội VI: Đào Trí Úc, Trần Ngọc Hiên, Trần Ngọc Đường, Hoàng Thế Liên, Dương Đăng Huệ, Nguyễn Như Phát, Lê Hồng Hạnh.
    • Các dự án hỗ trợ kỹ thuật và cải cách pháp luật của UNDP, Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức GTZ (Cộng hòa Liên bang Đức).

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Trước thời điểm nghiên cứu, giới khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một công trình tổng hợp nào hệ thống hóa, phân tích và đánh giá toàn diện các trường phái quan niệm về luật kinh tế (tư sản, xã hội chủ nghĩa và Việt Nam). Đồng thời, chưa có công trình nào đánh giá một cách có hệ thống thực trạng các chế định luật kinh tế thực định của Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi để xây dựng một khung giải pháp hoàn thiện đồng bộ, đặt trong mối quan hệ giữa Nhà nước, pháp luật và cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật: Vận dụng quan điểm duy vật lịch sử về vai trò quyết định của chế độ sở hữu đối với quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng pháp lý; bản chất của quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người về tài sản; quan điểm về nhu cầu vật chất là tiền đề cho các hoạt động chính trị và pháp lý.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VIII về đổi mới tư duy kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền và quản lý xã hội bằng pháp luật, ghi nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (thể chế hóa tại Điều 15 Hiến pháp năm 1992).
  • Lý thuyết phân kỳ quản lý nhà nước của F. Kübler: Khung phân tích 3 giai đoạn can thiệp của pháp luật đối với chủ thể kinh doanh: giai đoạn hệ thống giấy phép hành chính (Administrationsakt / Konzessionssystem), giai đoạn hệ thống các điều kiện bắt buộc, và giai đoạn tự do kinh doanh dưới sự điều tiết vĩ mô bắt đầu từ Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807.
  • Khái niệm và phạm vi ngành luật: Luận án phân tích hai cách tiếp cận:
    • Luật kinh tế theo nghĩa rộng: Tổng thể các quy phạm thuộc nhiều ngành luật khác nhau (Hiến pháp, Dân sự, Hành chính, Tài chính, Đất đai, Hình sự...) điều chỉnh hoạt động quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh; theo nghĩa này luật kinh tế không phải là ngành luật độc lập.
    • Luật kinh tế theo nghĩa hẹp: Một ngành luật độc lập điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, đăng ký kinh doanh, hoạt động, giải thể, phá sản doanh nghiệp, bao gồm 4 chế định trụ cột: (1) Chủ thể kinh doanh; (2) Hợp đồng kinh tế; (3) Phá sản và giải thể doanh nghiệp; (4) Tài phán kinh tế. Luận án lựa chọn khung phân tích theo nghĩa hẹp này.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản pháp luật: Áp dụng phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kinh tế Việt Nam từ trước đổi mới đến năm 1996.
  • Phương pháp luật so sánh: Đối chiếu cấu trúc, quy mô và chế định của pháp luật kinh tế Việt Nam với hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (phân biệt Corporation và Business/Partnership), hệ thống luật La Mã - Đức (phân biệt công ty đối nhân và công ty đối vốn), cũng như đối chiếu trực tiếp quy mô Luật Công ty của Việt Nam với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Thụy Điển, CHLB Đức.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tổng hợp, đánh giá dữ liệu thực tiễn áp dụng pháp luật, tình hình phát triển doanh nghiệp và hoạt động lập pháp.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.
  • Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Lao động năm 1994.
  • Các đạo luật kinh tế thực định: Luật Công ty năm 1990 (sửa đổi năm 1994), Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (sửa đổi năm 1994), Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 (sửa đổi năm 1990, 1992, 1996), Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993.
  • Các văn bản của Chính phủ: Quyết định số 217-HĐBT (14/11/1987), các Nghị định số 27-HĐBT, 28-HĐBT, 29-HĐBT (09/03/1988), Nghị định số 66-HĐBT (03/02/1992), Nghị định 221-HĐBT và Nghị định 222-HĐBT.
  • Số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 1987–1996 về tăng trưởng GDP, lạm phát, cơ cấu thành phần kinh tế và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường và một số quan niệm về luật kinh tế

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc, bản chất, các chức năng của luật kinh tế và hệ thống hóa các trường phái học thuyết pháp lý:

  1. Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường:

    • Tác giả phân tích lịch sử can thiệp của nhà nước từ thời trung cổ, phong kiến đến chủ nghĩa tư bản. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây, luật kinh tế chủ yếu phục vụ việc lập, thực hiện và kiểm tra kế hoạch của Nhà nước.
    • Trong nền kinh tế thị trường, luật kinh tế giữ 4 vai trò cơ bản:
      • Vai trò thứ nhất: Là phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý và điều tiết các quá trình kinh tế.
      • Vai trò thứ hai: Bảo vệ các nguyên tắc và quy luật tự nhiên của thị trường (tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do hợp đồng, tự do định đoạt).
      • Vai trò thứ ba: Hạn chế và khắc phục các khiếm khuyết, khuyết tật của thị trường (cạnh tranh bất hợp pháp, hàng giả, đầu cơ, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường), đồng thời giới hạn sự can thiệp trực tiếp tùy tiện của quyền lực công vào kinh tế theo nguyên tắc: công dân được làm những gì pháp luật không cấm, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
      • Vai trò thứ tư: Giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội đã đề ra.
  2. Các quan niệm về luật kinh tế trên thế giới và tại Việt Nam:

    • Học thuyết tư sản: Không coi luật kinh tế là một ngành luật độc lập mà là tập hợp đa ngành gồm luật thương mại, luật hợp đồng, luật cạnh tranh, luật công ty, luật ngân hàng, luật phá sản... Lịch sử pháp luật kinh tế tư sản là sự đan xen giữa hai xu hướng: tự do hóa kinh tế (tiêu biểu là học thuyết Adam Smith) và sự can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật. Luận án trích dẫn phân loại 3 giai đoạn của F. Kübler để chỉ ra sự tiến hóa từ can thiệp hành chính trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng khuôn khổ pháp luật.
    • Học thuyết tại các nước xã hội chủ nghĩa: Phân tích sự khác biệt về nhận thức (ở Liên Xô từng có tranh luận gay gắt giữa quan điểm của P. I. Stutschka, N. Alexejew, E. B. Paschukanis và W. W. Laptew; CHDC Đức coi là ngành luật độc lập; Tiệp Khắc ban hành Bộ luật Kinh tế riêng; Hungary không công nhận ngành luật độc lập). Laptew đưa ra 3 tiêu chí khẳng định tính độc lập của luật kinh tế Xô Viết: (1) đối tượng điều chỉnh kết hợp giữa yếu tố tổ chức kế hoạch và yếu tố tài sản; (2) chủ thể chỉ gồm các tổ chức xã hội chủ nghĩa và đơn vị thành viên, không bao gồm công dân; (3) phương pháp điều chỉnh kết hợp nhiều phương pháp pháp lý.
    • Quan niệm luật kinh tế ở Việt Nam: Trải qua hơn 40 năm chịu ảnh hưởng từ khoa học pháp lý Xô Viết. Do tiếp thu trong điều kiện nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến chuyển thẳng lên chủ nghĩa xã hội và tình trạng chiến tranh kéo dài, lý luận luật kinh tế được tiếp nhận thụ động, không có tranh luận đối kháng. Bước vào thời kỳ đổi mới, khoa học pháp lý Việt Nam phân hóa thành hai quan niệm: nghĩa rộng (tập hợp quy phạm đa ngành) và nghĩa hẹp (ngành luật độc lập gồm 4 chế định: chủ thể kinh doanh, hợp đồng kinh tế, phá sản - giải thể, tài phán kinh tế). Tác giả bảo vệ quan điểm ủng hộ ngành luật kinh tế độc lập theo nghĩa hẹp.

Chương 2: Thực trạng luật kinh tế Việt Nam hiện nay

Chương 2 đánh giá thực trạng các văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật kinh tế Việt Nam sau 10 năm đổi mới:

  1. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế và lập pháp:
    • Tác giả nêu bật các chỉ tiêu kinh tế đạt được sau đổi mới: tăng trưởng GDP giai đoạn 1991–1995 đạt bình quân 8,2%; kim ngạch xuất khẩu tăng 20%; sản xuất công nghiệp tăng 13%; Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ ba thế giới (sau Mỹ và Thái Lan).
    • Kiểm soát lạm phát ghi nhận bước chuyển biến lớn:
Năm Tỷ lệ lạm phát (%)
1987 735,0%
1991 67,1%
1993 5,3%
1994 14,4%
1995 12,7%
  • Số liệu phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh tính đến tháng 4 năm 1996 phản ánh sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu thành phần kinh tế:
Loại hình tổ chức kinh doanh Số lượng (tháng 4/1996)
Doanh nghiệp tư nhân 10.818
Công ty trách nhiệm hữu hạn 4.015
Công ty cổ phần 138
  • Hoạt động lập pháp đạt khối lượng lớn: Quốc hội khóa VIII (1987–1992) ban hành 31 đạo luật và thông qua Hiến pháp năm 1992; Quốc hội khóa IX thông qua 2 bộ luật (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động), 35 luật và 38 pháp lệnh, trong đó ưu tiên trọng tâm là kinh tế với 17 luật và 7 pháp lệnh.
  1. Thực trạng các lĩnh vực pháp luật kinh tế cụ thể:
    • Về quyền sở hữu: Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 1995 ghi nhận nhiều hình thức sở hữu (toàn dân, tổ chức chính trị - xã hội, tập thể, tư nhân, hỗn hợp, sở hữu chung). Luận án chỉ ra điểm phức tạp nhất là việc thể chế hóa quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản doanh nghiệp nhà nước. Tác giả dẫn chứng 7 phương thức tư nhân hóa/cải cách của Charles Vuylsteke và khẳng định Việt Nam không tư nhân hóa ồ ạt mà kết hợp phân loại doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa và đổi mới cơ chế quản lý nội bộ, đồng thời phát triển khu vực tư nhân nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
    • Về quyền tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh: Tự do kinh doanh được thể chế hóa tại Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Công ty 1990 và Điều 57 Hiến pháp năm 1992. Về tự do cạnh tranh, tác giả phân tích thực trạng Việt Nam chưa có luật chống hạn chế cạnh tranh riêng biệt; quyền này mới được bảo đảm gián tiếp qua tự do kinh doanh, tự do hợp đồng và giá cả. Tác giả phê phán quan điểm cho rằng chưa cần luật cạnh tranh, đồng thời khẳng định tính cấp thiết phải sớm ban hành Luật Cạnh tranh để kiểm soát độc quyền nhà nước và chống cạnh tranh không lành mạnh.
    • Về tổ chức hoạt động kinh doanh và hình thức pháp lý:
      • Phân tích sự chuyển dịch từ các xí nghiệp quốc doanh, liên hiệp xí nghiệp theo cơ chế cũ sang các loại hình tổ chức kinh doanh mới: tổ chức một chủ (doanh nghiệp tư nhân, hộ cá nhân theo Nghị định 66-HĐBT - không có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm vô hạn); công ty cổ phần và công ty TNHH (có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn); doanh nghiệp nhà nước (pháp nhân, trách nhiệm hữu hạn); doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (thường tổ chức dưới dạng công ty TNHH); hợp tác xã.
      • Đánh giá hạn chế của Luật Công ty năm 1990: So sánh quy mô điều luật cho thấy Luật Công ty Việt Nam quá ngắn (46 điều) so với Luật Công ty của Trung Quốc (230 điều), Thái Lan (225 điều), Thụy Điển (215 điều) hay Luật Cổ phần của CHLB Đức (410 điều). Bốn khiếm khuyết lớn được chỉ ra: (1) nội dung chưa cụ thể, thiếu quy định quan trọng; (2) chưa bao quát các mô hình công ty phổ biến và thiếu cơ chế chuyển đổi giữa các loại hình doanh nghiệp; (3) thủ tục hành chính thành lập rườm rà (có tới 14/46 điều là thủ tục hành chính, khiến luật mang tính chất "Luật thành lập công ty"); (4) mâu thuẫn, chồng chéo với các luật mới ban hành (Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Phá sản).

Chương 3: Các đặc điểm chủ yếu của kinh tế thị trường hiện nay, phương hướng và giải pháp hoàn thiện luật kinh tế

Chương 3 tổng kết các đặc trưng của nền kinh tế làm cơ sở đề xuất định hướng cải cách:

  1. Sáu đặc điểm chủ yếu của kinh tế thị trường Việt Nam:

    • Thứ nhất: Nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chưa có tiền lệ lý thuyết hoàn chỉnh.
    • Thứ hai: Lấy thành phần kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, giữ vai trò then chốt trong các ngành kinh tế trọng yếu.
    • Thứ ba: Phát triển trên cơ sở nền sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, khu vực.
    • Thứ tư: Vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội.
    • Thứ năm: Có sự quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước bằng pháp luật nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường.
    • Thứ sáu: Đang trong xu thế chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
  2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện luật kinh tế:

    • Phương hướng có tính nguyên tắc chung: Đổi mới tư duy pháp lý kinh tế; hoàn thiện luật kinh tế trên nền tảng bảo vệ quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật.
    • Giải pháp cụ thể cho các chế định chủ yếu:
      • Sửa đổi căn bản Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân: mở rộng quyền tự do kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bổ sung cơ chế chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp hành chính trực tiếp của cơ quan công quyền.
      • Nghiên cứu xây dựng và sớm ban hành văn bản pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống hạn chế cạnh tranh (Luật Cạnh tranh).
      • Hoàn thiện chế định pháp luật về sở hữu toàn dân và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp quốc doanh theo hướng phân định quyền sở hữu và quyền quản trị kinh doanh.
      • Cải cách chế định hợp đồng kinh tế và cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn cho các nhà đầu tư.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố của tác giả, luận án mang lại 4 đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Về phương diện lịch sử học thuyết pháp lý: Lần đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích và đánh giá so sánh một cách toàn diện các quan niệm về luật kinh tế của các học giả tư sản, học giả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và giới luật học Việt Nam qua các thời kỳ.
  2. Về phương diện lý luận: Luận chứng một cách khoa học về vai trò, vị trí và chức năng của luật kinh tế trong cơ chế quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; làm rõ ranh giới giữa sự can thiệp hợp pháp của nhà nước nhằm khắc phục khuyết tật thị trường với việc xâm phạm quyền tự do kinh doanh.
  3. Về phương diện đánh giá thực tiễn: Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hệ thống pháp luật kinh tế thực định của Việt Nam sau 10 năm đổi mới trên các lĩnh vực then chốt (sở hữu, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tổ chức doanh nghiệp), chỉ ra các mâu thuẫn nội tại và khoảng cách giữa luật thực định Việt Nam với chuẩn mực quốc tế.
  4. Về phương diện giải pháp và chính sách: Đưa ra nhận thức mới về mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước, pháp luật và cơ chế quản lý kinh tế; đề xuất hệ thống giải pháp và phương hướng cụ thể nhằm hoàn thiện 4 chế định cốt lõi của ngành luật kinh tế độc lập (chủ thể kinh doanh, hợp đồng kinh tế, phá sản - giải thể và tài phán kinh tế).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo cứu trong khuôn khổ quan niệm luật kinh tế theo nghĩa hẹp, tập trung vào 4 chế định cơ bản, do đó chưa đi sâu phân tích toàn diện các lĩnh vực chuyên ngành chuyên sâu như pháp luật tài chính công, ngân sách nhà nước, chứng khoán hoặc pháp luật đất đai chuyên biệt. Dữ liệu thực chứng phản ánh giai đoạn chuyển đổi ban đầu (đến tháng 4 năm 1996), khi nhiều thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam mới ở dạng thử nghiệm sơ khai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế thể chế hóa cụ thể quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp; xây dựng dự thảo đạo luật chuyên biệt về chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền; hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và các hình thức liên kết kinh tế phức tạp trong quá trình hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn trong các phương diện sau:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp quyền: Tài liệu cung cấp bức tranh tổng thuật phong phú về các trường phái học thuyết pháp lý kinh tế (tư sản, Xô Viết, Đông Âu và Việt Nam), là nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng pháp lý và lý luận ngành luật kinh tế.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ lập pháp tại Quốc hội, Bộ Tư pháp: Các luận điểm phân tích hạn chế của Luật Công ty năm 1990 (về thủ tục hành chính, thiếu cơ chế chuyển đổi mô hình công ty, số lượng điều luật quá ít) và đề xuất ban hành Luật Cạnh tranh có giá trị thực tiễn trực tiếp trong việc xây dựng các đạo luật kinh tế lớn thời kỳ đổi mới (như Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Cạnh tranh năm 2004 sau này).
  • Đối với giới nghiên cứu kinh tế học và quản lý kinh tế: Cung cấp cách tiếp cận liên ngành giữa kinh tế học và pháp luật học về bản chất của doanh nghiệp, quyền sở hữu tài sản và cơ chế vận hành của nền kinh tế hỗn hợp có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn quan niệm luật kinh tế theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp và gồm những chế định cơ bản nào?
Trả lời: Tác giả ủng hộ quan điểm xác định luật kinh tế là một ngành luật độc lập theo nghĩa hẹp. Theo đó, ngành luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, đăng ký kinh doanh, hoạt động, giải thể, phá sản doanh nghiệp và được cấu thành bởi 4 chế định trọng tâm: (1) Chế định về chủ thể kinh doanh (các loại hình doanh nghiệp); (2) Chế định hợp đồng kinh tế; (3) Chế định phá sản, giải thể doanh nghiệp; (4) Chế định tài phán kinh tế.

2. Theo học thuyết của F. Kübler được luận án viện dẫn, lịch sử tác động của nhà nước vào các chủ thể luật kinh tế trải qua những giai đoạn nào?
Trả lời: Luận án viện dẫn F. Kübler phân chia quá trình này thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Hệ thống giấy phép hành chính (Administrationsakt / Konzessionssystem), việc thành lập doanh nghiệp phải thông qua quyết định hành chính cụ thể của cơ quan công quyền.
  • Giai đoạn 2: Hệ thống các điều kiện bắt buộc, nhà nước nới lỏng can thiệp trực tiếp và đưa ra các điều kiện khung, thẩm phán đăng ký kinh doanh sẽ kiểm tra điều kiện để ghi danh.
  • Giai đoạn 3: Doanh nghiệp ra đời tự do theo luật định mà không chịu sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, đánh dấu bằng sự ra đời của Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807.

3. Tác giả đánh giá như thế nào về sự cần thiết ban hành luật cạnh tranh tại Việt Nam ở thời điểm năm 1996?
Trả lời: Tác giả bác bỏ quan điểm cho rằng kinh tế thị trường mới hình thành nên chưa cần luật cạnh tranh. Luận án khẳng định việc sớm ban hành luật cạnh tranh là vô cùng cần thiết nhằm bảo vệ quyền tự do cạnh tranh, ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhà nước đang chiếm ưu thế trong các lĩnh vực kinh tế chủ yếu.

4. Luận án chỉ ra những hạn chế lớn nào của Luật Công ty năm 1990 qua so sánh quốc tế?
Trả lời: Luận án chỉ ra Luật Công ty năm 1990 có quy mô quá ngắn (46 điều, trong khi Luật Công ty của Trung Quốc có 230 điều, Thái Lan 225 điều, Thụy Điển 215 điều, Đức 410 điều). Bốn hạn chế cốt lõi gồm: quy định chưa đủ rõ và thiếu nội dung quan trọng; chưa khái quát hết các loại hình công ty và thiếu cơ chế chuyển đổi giữa các loại hình; thủ tục hành chính phiền hà (chiếm 14/46 điều); mâu thuẫn với các đạo luật mới ban hành.

5. Sáu đặc điểm chủ yếu của kinh tế thị trường Việt Nam được luận án xác định là gì?
Trả lời: Sáu đặc điểm gồm: (1) Nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi; (2) Lấy thành phần kinh tế quốc doanh làm chủ đạo; (3) Phát triển trên cơ sở nền sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và phát triển không đồng đều; (4) Phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; (5) Có sự quản lý của Nhà nước; (6) Đang trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới.


Kết luận

Luận án phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Am Hiểu là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về lý luận và thực tiễn hoàn thiện luật kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm đầu đổi mới (1986–1996). Luận án đã làm rõ cơ sở học thuật để khẳng định luật kinh tế là một ngành luật độc lập với 4 chế định cốt lõi, đồng thời luận giải sâu sắc 4 vai trò của pháp luật kinh tế trong việc vừa bảo vệ các quy luật tự do thị trường vừa hạn chế các khuyết tật xã hội. Dựa trên việc phân tích thực trạng văn bản pháp luật và đối sánh quốc tế, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm xây dựng khung pháp lý kinh tế đồng bộ, góp phần phục vụ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.