phần mở đầu, nội dung đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB qua KBNN. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB qua KBNN Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB qua KBNN Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7.
Các bài báo trên các Tạp chí khoa học có liên quan đến đề tài trong 3 năm gần nhất Trong 3 năm trở lại đây không có bài nào viết về hoạt động kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB tại KBNN trên các Tạp chí Kinh tế phát triển; Phát triển kinh tế; Khoa học và công nghệ, Khoa học kinh tế; Ngân hàng; Tài chính. 5 Tuy nhiên, trên Tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia, có một số công trình công bố sau: (1) Trần Thanh Đạm (2015), “Giải pháp hạn chế thất thoát, lãng phí trong quản lý vốn đầu tƣ XDCB tại KBNN Kiên Giang”, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 153 tháng 3/2015. Bài báo đã đề cập đến vai trò quan trọng của đầu tƣ XDCB và một số vấn đề hạn chế trong các khâu quản lý của quá trình đầu tƣ. Qua thực tế quản lý đầu tƣ XDCB tại Kiên Giang, nhận thấy còn nhiều hạn chế trong các khâu quản lý của quá trình đầu tƣ, gây ra thất thoát lãng phí không nhỏ về chi phí đầu tƣ, cụ thể nhƣ: Lãng phí trong công tác chuẩn bị đầu tư: Thực tế những năm gần đây, quá trình chuẩn bị đầu tƣ cũng đã có sự lãng phí, nổi lên là đơn vị tƣ vấn trong bƣớc khảo sát lập dự án, thiết kế còn sơ sài, dẫn đến việc thi công sẽ phát sinh khối lƣợng thừa hoặc thiếu, phải chỉnh sửa nhiều lần; thiết kế tính toán hệ số an toàn cao quá mức thực tế cần thiết mặc dù tiêu chuẩn định mức cho phép; công tác khảo sát địa chất thủy văn không chính xác dẫn đến thiết kế không đảm bảo kỹ thuật làm tuổi thọ công trình giảm; tạo ra sự lãng phí vô hình hoặc phải phá đi làm lại tốn rất nhiều thờỉ gian và chi phí đầu tƣ.
Lãng phí thất thoát trong quá trình thi công: Kiên Giang là tỉnh vùng sâu, vùng xa, điều kiện thời tiết, đi lại khó khăn, các công trình dự án có mức vốn nhỏ, nên việc tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực là khó khăn, nên thƣờng phải chỉ định thầu cho kịp tiến độ dự án, từ đó làm giảm tính cạnh tranh, phải sử dụng các nhà thầu tại địa phƣơng, hoặc các nhà thầu địa phƣơng khác không đủ năng lực tham gia các dự án tại địa phƣơng mình, để chọn thầu thi công. Từ đó, năng lực, kinh nghiệm nhà thầu còn nhiều hạn chế, có khi không đảm bảo tiến độ, chất lƣợng công trình, phải chấm dứt hợp đồng, kéo dài thời gian thi công, giảm chất lƣợng và tuổi thọ công trình. 6 Từ những thực trạng và tồn tại đó, tác giả đã đề xuất một số Giải pháp hạn chế thất thoát, lãng phí và tiêu cực trong đẩu tƣ và xây dựng: Cần đổi mới cơ chế quản lý về đầu tƣ XDCB theo hƣớng minh bạch, đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, có chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe. Các Ban quản lý phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Các nhà thầu tƣ vấn, ngoài việc đảm bảo chất lƣợng thiết kế, nhƣng không lãng phí, do thiết kế khối lƣợng quá độ an toàn cần thiết, gây lãng phí vốn đầu tƣ, trong thiết kế cần ƣu tiên sử dụng nguyên vật liệu và thiết bị sản xuất trong nƣớc với giá thành hạ, không nên tùy tiện sử dụng các loại vật tƣ, thiết bị nhập khẩu quá đắt tiền gây lãng phí. Tăng cƣờng hơn nữa vai trò của thanh tra chuyên ngành xây dựng, nhằm kiểm tra có tính răn đe, phòng ngừa, hơn là khi để xảy ra vi phạm mới tiến hành xử lý. (2) Bùi Quang Sáng (2015), “Tăng cƣờng công tác kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nƣớc Thái Nguyên”, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 158 tháng 8/2015. Bài báo đã nêu ra một số những vƣớng mắc, khó khăn trong kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, trái phiếu Chính phủ, chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ: Năm 2015, có nhiều Nghị định, Thông tƣ, văn bản hƣớng dẫn về đầu tƣ XDCB có hiệu lực thi hành.
Tuy nhiên việc ban hành các văn bản hƣớng dẫn của các cấp có thẩm quyển chƣa đồng bộ và kịp thời dẫn đến việc tổ chức triển khai thực hiện kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, TPCP, CTMTQG tại KBNN Thái Nguyên gặp nhiều khó khăn. Giao kế hoạch vốn năm 2015 chậm. Cơ quan Tài chính chậm nhập dự toán trên TABMIS. Một số dự án thực hiện đấu thầu các gói thầu còn chậm.
Về phía nhà thầu, có nhà thầu mất khả năng tài chính hoặc không đủ năng lực, không thể tiếp tục triển khai dự án. Từ những thực trạng đó, tác giả đã đề xuất một số Giải pháp đẩy nhanh 7 tiến độ giải ngân các nguồn vốn những tháng cuối năm 2015: Thực hiện rà soát các dự án, chƣơng trình chƣa phân bổ chi tiết, chƣa đƣợc thông báo thẩm tra dự toán để có ý kiến với cơ quan tài chính và cấp có thẩm quyển thực hiện phân bổ, giao dự toán chi tiết vốn CTMTQG năm 2015. Phối hợp với các cơ quan liên quan tham mƣu cho UBND tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo các chủ đầu tƣ, ban QLDA các dự án đầu tƣ XDCB, TPCP, CTMTQG tích cực, chủ động triển khai các công việc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, khẩn trƣơng hoàn chỉnh hồ sơ thanh toán gửi KBNN Thái Nguyên nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tƣ ngay từ khi có kế hoạch, dự toán đƣợc giao. KBNN Thái Nguyên kiên quyết từ chối các khoản chi không đúng chế độ, không có trong định mức, tiêu chuẩn của Nhà nƣớc; kịp thời báo cáo KBNN đối với những trƣờng hợp đề nghị thanh toán hoặc những quyết định của cấp có thẩm quyền không đúng quy định để có biện pháp giải quyết.
(3) Ngô Thành Đức và Lê Công (2015), “Quản lý và kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nƣớc từ góc độ KBNN cấp huyện”, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 161 tháng 11/2015. Bài báo đã tổng hợp một số vấn đề phát sinh từ hoạt động thực tiễn: ngoài những ƣu điểm và hiệu quả tích cực từ thực tế phát sinh đối với các khoản chi NSNN theo cơ chế thanh toán cam kết chi NSNN hiện nay đã mang lại, cũng còn một số khó khăn nhất định, cần điều chỉnh phù hợp với tình hình cải cách hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính để giảm bớt thời gian thanh toán, tạm ứng trong kiểm soát chi NSNN nói chung và trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát chi vốn đầu tƣ xây dựng nói riêng. Cụ thể: Thứ nhất, bộ phận KSC KBNN huyện thuộc Tổ (phòng) Tổng hợp - hành chính hiện tại vẫn còn nhiều bị động nhƣ chƣa đƣợc phân cấp, ủy quyền và có chức năng xem và đóng, mở tài khoản của nhà cung cấp đã tồn tại trên hệ thống khi có thay đổi tài khoản thanh toán. Thứ hai, trong phạm vi 2 ngày làm việc kể từ 8 khi nhận đƣợc Hợp đồng giấy của đơn vị, chuyên viên mở cam kết chi rồi thông báo ý kiến chấp thuận bằng văn bản (nếu đƣợc) thì mới có số hợp đồng khung tức là số cam kết chi và mã nhà cung cấp thì đơn vị mới lập Giấy đề nghị cam kết chi NSNN.
Nhƣ vậy, khi đơn vị gửi hợp đồng giấy để mở hợp đồng khung thì chƣa kèm theo cam kết chi đƣợc, cũng nhƣ chƣa có các thông tin về mã nhà cung cấp và số hợp đồng khung để đơn vị ghi vào Giấy để nghị cam kết chi đó. Đơn vị phải chờ trong vòng 2 ngày làm việc để chuyên viên mở hợp đồng khung xong và thông báo chấp thuận theo quy định thì mới làm bƣớc tiếp theo là lập Giấy đề nghị cam kết chi NSNN gửi KBNN. Thứ ba, đối với phân hệ cam kết chi trong chƣơng trình TABMIS vẫn còn bất cập, đó là khi đơn vị gửi Phiếu điều chỉnh số liệu cam kết chi để điều chỉnh tăng (hoặc giảm) thì chuyên viên tiếp nhận và thực hiện điều chỉnh trên chƣơng trình TABMIS và đệ trình, chuyển chứng từ cho Kế toán trƣởng phê duyệt. Vào cuối ngày làm việc, chuyên viên in liệt kê chứng từ trên phân hệ cam kết chi không thể hiện rõ số tiền điều chỉnh mà số tiền này đƣợc cộng dồn (tăng) hoặc trừ đi (giảm) vào số tiền đã đề nghị cam kết chi trƣớc đó.
Từ những vấn đề còn gặp phải khó khăn trong thực tế phát sinh tại KBNN cấp huyện, tác giả đã đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị: Đẩy mạnh việc phân cấp và uỷ quyền cho chuyên viên tại KBNN cấp tỉnh, huyện trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát cam kết chi có chức năng xem, đóng, mở và thay đổi tài khoản thanh toán của nhà cung cấp đã tồn tại trên hệ thống TABMIS để giảm thiểu thời gian phụ thuộc vào Đội xử lý trung tâm tỉnh. Điểu chỉnh, sửa đổi quy định vể gửi cam kết chi theo hƣớng: Trong vòng 05 ngày làm việc, đơn vị phải gửi Hợp đồng giấy đến KBNN nơi đơn vị mở tài khoản hoạt động và giao dịch để mở cam kết chi, hợp đồng khung theo quy định, không nhất thiết bắt buộc kèm theo Giấy đề nghị cam kết chi. Nghiên cứu hoàn thiện phân hệ cam kết chi để mỗi chứng từ cam kết chi khi đƣợc 9 điều chỉnh (tăng hoặc giảm) đều đƣợc thể hiện một dòng trên liệt kê chứng từ phân hệ cam kết chi và đƣợc in ra để lƣu trữ đƣợc đầy đủ. (4) Hà Quốc Thái (2015), “Kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ do cấp xã quản lý: Một số vƣớng mắc và đề xuất tháo gỡ”, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 162 tháng 12/2015.