MỞ ĐẦU 1/ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã thay đổi phương thức quản lý khu vực công từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra, gắn kết quả với phân công trách nhiệm cho mọi chủ thể trong khu vực công (New Public Management - NPM). Mục đích chính của phương thức này là tạo ra một môi trường hoạt động trong đó tính hiệu quả được đưa lên hàng đầu, mỗi đơn vị trong khu vực công trong đó bao gồm các đơn vị dịch vụ công cần nỗ lực phát huy hiệu quả hoạt động với chi phí ít nhất có thể và tăng cường chịu trách nhiệm với nguồn lực (tài sản, kinh phí…) được nhận từ ngân sách nhà nước. Kế toán với vai trò là công cụ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin tài chính chủ yếu phục vụ quản lý, do đó sự phát triển NPM phụ thuộc nhiều vào chất lượng của kế toán. Nếu nhìn nhận từ gốc độ cơ sở kế toán, kế toán nói chung và kế toán các đơn vị dịch vụ công nói riêng tuân thủ cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích.
Cho đến những năm 80 của thế kỷ 20 kế toán đơn vị dịch vụ công ở hầu hết các quốc gia vẫn chủ yếu theo cơ sở tiền mặt bởi khi này tính hội nhập quốc tế của kế toán khu vực công cũng như tính đa phương trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và các khu vực chưa cao, việc kiểm soát các khoản nợ trên báo cáo tài chính của từng thực thể trong khu vực công cũng như báo cáo chính phủ quốc gia chưa thực sự được chú trọng. Có thể khẳng định cơ sở tiền mặt phù hợp với qui định trong quản lý ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ công nhưng khi ứng dụng phương thức quản lý mới NPM nhu cầu thông tin tài chính không chỉ dừng ở quản lý thu, chi, tồn ngân sách quốc gia mà còn cần đánh giá so sánh tính khả thi của việc đầu tư từ các nguồn trong và ngoài ngân sách cho các đơn vị dịch vụ công; lập kế hoạch quản lý sử dụng tài sản dài hạn; lập kế hoạch hoàn trả các khoản nợ hiện có, quản lý lưu lượng và nhu cầu tiền trong các giai đoạn tài chính tiếp theo, đánh giá được hiệu quả của các chính sách công, tác động của các quyết định tài chính đối với tài sản ròng, và giúp các đơn vị có cái nhìn dài hạn hơn khi đưa ra quyết định tài chính. Những nhu cầu 2 này chỉ được đáp ứng khi kế toán áp dụng cơ sở dồn tích. Bởi vậy, chuyển đổi cơ sở kế toán từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích đối với kế toán các đơn vị dịch vụ công nói riêng và toàn thể khu vực công nói chung thực sự trở nên cấp thiết.
Trên khía cạnh lý luận, gần đây các nghiên cứu về kế toán khu vực công xuất hiện khá nhiều tại Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu cơ sở kế toán ứng dụng trong kế toán khu vực công nói chung và kế toán đơn vị sự nghiệp công nói riêng có xét đến môi trường chính trị - kinh tế - xã hội chưa nhiều và chưa trở thành một hệ thống, rất cần thêm những nghiên cứu thực chứng nhằm bổ sung và củng cố hệ thống lý luận về cơ sở kế toán dành cho kế toán công Việt Nam, đặc biệt khi kế toán Việt nam đang trong tiến trình hội nhập với kế toán quốc tế, những hướng dẫn chế độ kế toán cụ thể sẽ dần được thay thế bởi những mực thước về cơ sở và nguyên tắc kế toán chung được công nhận. Trên khía cạnh thực tế, ở Việt Nam công tác kế toán trong các đơn vị dịch vụ công (có tên gọi đơn vị sự nghiệp công lập) tuân thủ chế độ kế toán do nhà nước ban hành. Từ phía cơ quan quản lý nhà nước cũng như từ phía người làm kế toán ở trong đơn vị sự nghiệp công lập, việc thực hiện công tác kế toán thường chú trọng phục vụ quản lý, kiểm tra, kiểm soát tài chính của nhà nước. Cho đến nay những hướng dẫn của nhà nước trong kế toán đơn vị dịch vụ công đã có nhiều cải cách gắn liền với sự đổi mới cơ chế quản lý tài chính công dành cho loại hình đơn vị này theo hướng tăng cường tự chủ, đồng thời có tính đến định hướng hội nhập kế toán công quốc tế nhưng chưa có sự nhận định cụ thể việc vận dụng cơ sở kế toán giúp thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán phục vụ hữu hiệu đổi mới quản lý hoạt động, quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tăng cường tự chủ và hội nhập kế toán công quốc tế.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tế trên, tác giả mong muốn nghiên cứu về nội dung công tác kế toán của đơn vị sự nghiệp công lập trên góc độ vận dụng cơ sở kế toán phù hợp với sự cải cách cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như đáp ứng hữu hiệu nhu cầu thông tin cho việc ra quyết định kinh tế của các chủ thể liên quan đến đơn vị này như cơ quan quản lý 3 nhà nước, cá nhân quản lý đơn vị, chủ đầu tư, đối tác liên kết kinh tế, chủ thể tham gia hoạt động trong đơn vị …vv…có sự tham chiếu kinh nghiệm quốc tế. Việc nghiên cứu thực chứng để chứng minh thực tế cần dựa trên điển hình đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể. Khi tìm hiểu về các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam, sau khi loại trừ các đối tượng đã được nghiên cứu trước đây, cũng như tìm hiểu đặc thù hoạt động và quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập tác giả nhận thấy: - Các trường các trường THCNCL là một bộ phận then chốt trong Hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò phân luồng người học sau trung học cơ sở và trung học phổ thông tạo điều kiện thuận lợi để những thanh niên không có điều kiện theo học các chương trình giáo dục đại học có thể tiếp tục theo học để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng lao động, kỹ năng sống. Trường THCNCL cung cấp nguồn nhân lực có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật chủ đạo cho hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho trong và ngoài nước.
- Một nghịch lý đang diễn ra là từ 2014 đến nay là dù Nhà nước rất chú trọng thực hiện xã hội hóa giáo dục, thay đổi cơ chế tài chính tạo điều kiện cho các trường chủ động trong công tác tài chính, xây dựng khung pháp lý thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp liên kết với các trường hình thành doanh nhân xã hội nhưng các trường THCNCL vẫn phụ thuộc chủ yếu nguồn ngân sách nhà nước và khó khăn trong thu hút đầu tư bên ngoài vào hoạt động đào tạo, có nguy cơ thu hẹp qui mô đào tạo, bị người học và nhà tuyển dụng lao động đánh giá khá thấp về chất lượng do chưa đáp ứng nhu cầu. - Để tháo gỡ cho các trường THCNCL, Bộ lao động thương binh xã hội (Bộ LĐTBXH) hướng đến thành lập các Hội đồng ngành với sự tham gia của doanh nghiệp lớn và các trường trực thuộc quản lý của Bộ LĐTBXH đưa ra tiêu chuẩn nghề nghiệp từ đó các trường xây dựng chương trình đào tạo, tăng cường gắn kết và trách nhiệm của nhà tuyển dụng với cơ sở đào tạo từ khâu lên chương trình giảng dạy đến hỗ trợ thực tập. Bước đầu Bộ LĐTBXH đã kết hợp với Hội đồng Anh thực hiện thí điểm tại 21 trường thuộc Bộ, xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng đào 4 tạo nghề nghiệp thông qua kết hợp nhà trường với các doanh nghiệp tại địa phương. Trong tương lai định hướng “phân khúc đào tạo”chủ yếu của các trường THCNCL thay vì đào tạo dài hạn cấp bằng hay chứng chỉ sẽ chuyển sang đào tạo “modul” theo nhu cầu của người tuyển dụng, đào tạo theo đơn đặt hàng; cùng với việc mở rộng thu hút vốn đầu tư từ nhiều đối tượng khác ngoài nhà nước sẽ giúp các trường tồn tại và phát triển bền vững.
- Thông tin do kế toán trường THCNCL cung cấp là cơ sở quan trọng giúp người quản lý nhà trường, đối tác đặt hàng, đối tượng sử dụng dịch vụ đào tạo, nhà đầu tư … nắm bắt giá phí dịch vụ đào tạo theo từng modul, tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của nhà trường từ đó ra các quyết định kinh tế phù hợp. Công tác kế toán tại các trường này đã có nhiều đổi mới theo hướng cải cách chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước, nhưng ngoài việc tuân thủ qui định nhà nước thì việc xem xét tính hiệu quả khi vận dụng những hướng dẫn này và sự tương thích giữa mong muốn đáp ứng nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin kế toán với thực tế thực hiện nội dung kế toán và cung cấp thông tin kế toán tại các trường này xét trên khía cạnh ứng dụng cơ sở kế toán chưa được nghiên cứu kiểm chứng. Do vậy, giả lựa chọn các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam là đối tượng nghiên cứu thực trạng nhằm kiểm chứng cho những lý luận về cơ sở kế toán áp dụng cho loại hình đơn vị này và đưa ra các khuyên nghị hoàn thiện nội dung kế toán trong các trường THCNCL trên góc độ vận dụng cơ sở kế toán phù hợp. Đây cũng là lý do cho sự ra đời của đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam”.
2/ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1/ Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây cùng lĩnh vực Ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kế toán các đơn vị dịch vụ công lập nói chung và các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập nói riêng. Tác giả đã tìm hiểu về các kết quả 5 nghiên cứu điển hình có liên quan đến đề tài của mình và chia theo nhóm công trình nghiên cứu theo các tiêu chí cụ thể sau: * Nghiên cứu về kế toán trong đơn vị dịch vụ công- khía cạnh cơ sở kế toán Adela Deaconu và đồng sự với ấn phẩm “The impact of Accounting on Public sector management. An exploratory study for Romania” xuất bản bởi Transylvanian Review of Administrative Sciences, No.