Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 62 22 02 40) của tác giả Phạm Thị Hà, với đề tài "Câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt", được hoàn thành năm 2017 tại Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trương Thị Nhàn. Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào hiện tượng đảo ngữ – một hiện tượng ngữ pháp phức tạp gắn liền với sự chuyển dịch trật tự thành tố câu, tạo nên sự sai biệt giữa trật tự chuẩn (cơ bản) và trật tự biến thể nhằm phục vụ các mục đích ngữ nghĩa và giao tiếp cụ thể.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tiễn lý luận và dạy học ngôn ngữ. Tác giả chỉ ra rằng quan điểm ngữ pháp cấu trúc hình thức (tiêu biểu như luận điểm của Noam Chomsky, 1972) xem ngôn ngữ thuần túy là hệ thống các chuỗi âm thanh kết hợp theo các mẫu cấu trúc trừu tượng, do đó chưa giải thích thỏa đáng được sự chi phối của ngữ cảnh giao tiếp lên nghĩa của phát ngôn. Năng lực ngôn ngữ của con người không chỉ hình thành từ việc nắm vững cấu trúc ngữ pháp hình thức mà còn được định hình qua quá trình giao tiếp thực tế. Khắc phục hạn chế này, ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday xem ngôn ngữ là một phương tiện tự nhiên, trong đó mọi hiện tượng cú pháp đều có thể được lý giải thông qua cách thức ngôn ngữ vận hành trong xã hội. Mặt khác, từ thực tế giảng dạy ngoại ngữ, người học thường xuyên có nhu cầu được làm sáng tỏ bản chất và chức năng của các cấu trúc câu nhấn mạnh như câu đảo ngữ. Việc nắm vững các biến thể trật tự từ giúp người học làm phong phú phương thức biểu đạt. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình đối chiếu toàn diện, hệ thống hóa câu đảo ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên đồng thời cả ba bình diện chức năng theo lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các đặc điểm ngôn ngữ của câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này. Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thống kê, phân loại các câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong các tác phẩm văn học, truyện ngắn, và tiểu thuyết.
  2. Hệ thống hóa và mô hình hóa các loại câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, miêu tả và phân tích cấu tạo về hình thức và các đặc điểm thông qua các cấu trúc: cấu trúc Đề – thuyết, cấu trúc thức và cấu trúc chuyển tác trong diễn ngôn theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday.
  3. Phân tích và làm sáng tỏ các đặc trưng ngôn ngữ về các cấu trúc của các kiểu câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt.
  4. Trình bày những nhận xét tổng quan mang tính lí luận về vấn đề nghiên cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án.

Đối tượng nghiên cứu là câu đảo ngữ tiếng Anh và câu đảo ngữ tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc khảo sát các kiểu câu đảo ngữ thông qua ba bình diện chức năng theo quan điểm của M.A.K. Halliday:

  • Chức năng tạo văn bản (trên cơ sở cấu trúc Đề – Thuyết);
  • Chức năng liên nhân (trên cơ sở cấu trúc Thức);
  • Chức năng biểu hiện (trên cơ sở cấu trúc chuyển tác thông qua sự hiện thực hóa các tham tố tham gia vào các quá trình).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại một cách hệ thống các công trình nghiên cứu về hiện tượng đảo ngữ và trật tự từ trong nước và quốc tế theo hai hướng tiếp cận chính: ngữ pháp cấu trúc - hình thức và ngữ pháp chức năng.

Ở bình diện quốc tế, các công trình khảo sát câu đảo ngữ tiếng Anh bao gồm:

  • Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakobsen (1974) với công trình "Inversion in Present-Day English", xem xét đảo ngữ qua hai nhân tố: độ phức tạp cú pháp ("formal weight") và giá trị thông tin ("notional weight" hay "news value"). Hai tác giả cho rằng trong đảo ngữ toàn phần, chủ ngữ chuyển dịch về cuối câu do có dung lượng vật chất phức tạp và tải lượng thông tin lớn, trong khi yếu tố mang thông tin đã biết được đưa lên đầu câu.
  • Green (1982) định nghĩa câu đảo ngữ là các cấu trúc câu trần thuật trong đó chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động từ.
  • Penhallurick John (1984) trong "Full-Verb Inversion in English" nhận định đảo ngữ toàn phần có cơ sở diễn ngôn nhằm giới thiệu thông tin mới, trong đó chủ ngữ mang thông tin mới đứng sau động từ, còn đầu câu là các trạng ngữ chỉ vị trí hoặc phương hướng. Đến năm 1987, với "The Semantics of Auxiliary Inversion in English", Penhallurick cho rằng đảo ngữ trợ động từ phản ánh nét nghĩa "không chắc chắn" (uncertainty) gắn liền với sự kiện biểu thị ở vị ngữ, tuy nhiên luận án đánh giá quan niệm này chưa đủ cơ sở ngôn ngữ học vững chắc.
  • Betty Birner (1995) khảo sát đảo ngữ toàn phần dưới góc độ cấu trúc sắp xếp thông tin. Tác giả chứng minh câu đảo ngữ phù hợp với ba trật tự thông tin: Cũ – Mới (Discourse-old, Discourse-new), Mới – Mới (Discourse-new, Discourse-new), Cũ – Cũ (Discourse-old, Discourse-old), trong đó trình tự Cũ – Mới là phổ biến nhất. Birner kết luận yếu tố đảo lên đầu câu thường không mang thông tin mới hơn so với yếu tố đứng cuối câu.
  • Heidrun Dorgeloh (1997) với "Inversion in Modern English: Form and Function" khẳng định cấu trúc thông tin được mã hóa qua biến thể trật tự từ để định hướng sự chú ý của người tiếp nhận. Dorgeloh liên kết ý nghĩa phi nội dung mệnh đề của câu đảo ngữ với nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản theo mô hình của Halliday (1994).
  • Downing và Locke (1995) trong "A University Course in English Grammar" giải thích hiện tượng đảo ngữ thông qua khái niệm Đề ngữ (Theme) và Đề ngữ có đánh dấu (marked theme). Các tác giả phân chia yếu tố khởi đầu gây ra đảo ngữ thành ba nhóm: cụm từ chỉ phương hướng (here, there, down...), cụm từ có nghĩa phủ định (never, hardly, seldom, under no circumstances...) và các yếu tố liên kết/so sánh khác (so, neither, nor).
  • Fillmore (1999) và Newmeyer (2000) tiếp tục nghiên cứu ngữ nghĩa và các đặc trưng cú pháp của câu đảo ngữ dựa trên ngữ pháp chức năng.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về trật tự từ và hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Việt được ghi nhận qua nhiều tác giả:

  • Lý Toàn Thắng khảo sát các kiểu câu N2-N1-V và P-N, tìm kiếm sự chế định đối với trật tự từ dựa vào cấu tạo hình thức, vị thế thông tin và phân đoạn thực tại của câu; năm 2004, tác giả khẳng định cùng một sự kiện khách quan nhưng chiến lược tri nhận khác nhau sẽ sản sinh ra các cấu trúc cú pháp khác nhau.
  • Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (2009) xem đảo ngữ là phép tu từ nhấn mạnh thành phần câu khi thay đổi trật tự cú pháp mà nội dung thông báo không đổi, gồm ba dạng: đảo vị ngữ ra trước chủ ngữ, đảo bổ ngữ động từ lên đầu câu và đảo trạng ngữ lên đầu câu. Riêng Đinh Trọng Lạc (1995) trong cuốn "99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt" đã phân loại cụ thể 11 trường hợp đảo ngữ trong tiếng Việt.
  • Cao Xuân Hạo (1991) trong "Tiếng Việt - Sơ khảo ngữ pháp chức năng" khẳng định trật tự chuẩn của tiếng Việt là Đề trước - Thuyết sau, hiện tượng đảo Thuyết - Đề diễn ra phổ biến trong câu cảm thán và có tác động làm thay đổi sắc thái tình thái, cảm xúc.
  • Diệp Quang Ban (1998, 2009) phân tích tiêu chí xác định chủ ngữ, vị ngữ và chỉ ra các điều kiện hạn chế của hiện tượng đảo trật tự từ trong các ngôn ngữ không biến hình.
  • Nguyễn Minh Thuyết (1983) xác lập năm công thức câu tiếng Việt khả thi từ ba thành tố C, V, B (CVB, CBV, BCV, BVC, VBC) và xem thành tố đầu câu được chuyển vị là hiện tượng đảo trí. Sau đó, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) tiếp tục chuẩn hóa khái niệm thành phần nòng cốt câu tiếng Việt.
  • Trần Ngọc Thêm (1999) phân tích hiện tượng đảo V-C ở các động từ nội động có nét nghĩa tồn tại, xuất hiện (hiện ra, đi ra, mọc lên...).
  • Hoàng Văn Vân (2002) với "Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống" khảo sát chi tiết ngữ pháp kinh nghiệm của các quá trình quan hệ, phân tích hiện tượng mập mờ giữa quy gán và đồng nhất khi có mặt hoặc vắng mặt hệ từ "là".
  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2004) khảo sát cấu trúc - ngữ nghĩa của câu đảo ngữ tiếng Anh trong câu trần thuật qua ba chức năng: giới thiệu thực thể, nhấn mạnh và liên kết. Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Ái Nguyên (2005) khảo sát phương tiện nhấn mạnh qua trật tự cú pháp tiếng Anh và tiếng Việt dưới dạng tiền đảo và hậu đảo.

Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, tác giả Phạm Thị Hà lựa chọn hướng nghiên cứu chuyên sâu về câu đảo ngữ bằng cách áp dụng khung lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday để phân tích toàn diện câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Luận án giải quyết khoảng trống về việc mô hình hóa câu đảo ngữ thành các kiểu loại cụ thể và đối chiếu song song các kiểu loại đó trên cả ba trục cấu trúc: cấu trúc Đề – Thuyết, cấu trúc Thức và cấu trúc Chuyển tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên ba trụ cột: lý thuyết thành phần câu, lý thuyết trật tự từ và mô hình Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar) của M.A.K. Halliday (1994, 2002).

Về thành phần câu, luận án tiếp thu quan điểm xác định thành phần câu bắt buộc gồm: Chủ ngữ (CN), Vị ngữ (VN), Bổ ngữ (BN) hoặc Tân ngữ (TN), kết hợp với thành phần Trạng ngữ (TrN). Đối với tiếng Anh, luận án phân tích các chức năng của chủ ngữ theo Halliday gồm chủ ngữ tâm lý (Đề ngữ), chủ ngữ ngữ pháp (Chủ ngữ) và chủ ngữ logic (Hành thể); phân loại vị ngữ theo 6 kiểu quá trình; phân loại trạng ngữ theo Downing và Locke (1995) thành phụ ngữ (adjuncts), biệt ngữ (disjuncts) và liên ngữ (conjuncts). Đối với tiếng Việt, luận án dựa vào quan điểm của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998) và Diệp Quang Ban (2009) để xác định ranh giới giữa chủ ngữ, vị từ, bổ ngữ trực tiếp/gián tiếp và trạng ngữ.

Về trật tự từ, luận án vận dụng quan điểm của Simon C. Dik (1989) về trật tự thành tố độc lập với ngôn ngữ (LIPOC) và ba nguyên tắc ưu tiên chức năng: ưu tiên thành tố có đặc trưng chức năng bất biến, ưu tiên gán vị trí đầu cú cho Đề hoặc Tiêu điểm, và ưu tiên sắp xếp theo độ phức tạp phạm trù tăng dần từ trái sang phải. Luận án cũng trích dẫn nhận định của Douglas Biber (1999) và R. Asher (1994) về vai trò mã hóa ngữ pháp của trật tự từ trong các ngôn ngữ phân tích tính.

Về mô hình ngữ pháp chức năng hệ thống, câu (cú) được phân tích đồng thời qua ba siêu chức năng:

  1. Chức năng biểu hiện (kinh nghiệm): Hiện thực hóa qua cấu trúc Chuyển tác (Transitivity system), phản ánh sự thể qua 6 kiểu quá trình:
    • Quá trình vật chất (material process): hành động, biến cố tác động; gồm các tham tố chính là Hành thể (Actor) và Đích thể (Goal).
    • Quá trình tinh thần (mental process): phản ánh ý thức, gồm Cảm thể (Senser) và Hiện tượng (Phenomenon), chia thành tri giác, tình cảm, tri nhận.
    • Quá trình quan hệ (relational process): thiết lập quan hệ giữa hai thực thể, gồm ba kiểu: quan hệ sâu (intensive), chu cảnh (circumstantial), sở hữu (possessive); mỗi kiểu vận hành theo hai phương thức: định tính (attributive: gồm Đương thể và Thuộc tính) và đồng nhất (identifying: gồm Bị đồng nhất thể và Đồng nhất thể, hoặc Biểu hiện và Giá trị).
    • Quá trình hành vi (behavioural process): chuyển tiếp giữa vật chất và tinh thần, có tham tố duy nhất là Ứng thể (Behaver).
    • Quá trình phát ngôn (verbal process): chuyển tiếp giữa quan hệ và tinh thần, gồm Phát ngôn thể (Sayer), Tiếp ngôn thể (Receiver), Ngôn thể (Verbiage) và Đích ngôn thể (Target).
    • Quá trình hiện hữu (existential process): thể hiện sự tồn tại hoặc xuất hiện của sự vật, gồm Hiện hữu thể (Existent).
  2. Chức năng liên nhân: Hiện thực hóa qua cấu trúc Thức (Mood structure). Thức phản ánh câu như một sự trao đổi, gồm hai thành tố: Thức (Mood = Chủ ngữ + Hữu định) và Phần dư (Residue = Vị ngữ + Bổ ngữ + Phụ ngữ). Thành phần Hữu định (Finite) biểu thị thì, tình thái và cực tính (khẳng định/phủ định). Cấu trúc Thức phân biệt cú tuyên bố, cú nghi vấn (nghi vấn có-không và nghi vấn Wh-), cú cảm thán và cú cầu khiến.
  3. Chức năng tạo văn bản: Hiện thực hóa qua cấu trúc Đề – Thuyết (Theme – Rheme). Đề ngữ là xuất phát điểm của thông điệp, đứng ở vị trí đầu câu; Thuyết ngữ là phần diễn giải tiếp theo. Đề ngữ bao gồm Đề không đánh dấu (trùng với chủ ngữ ngữ pháp) và Đề có đánh dấu (khi một thành phần khác như trạng ngữ, bổ ngữ, vị từ được đưa lên đầu câu). Câu đảo ngữ thực chất là cấu trúc mang Đề ngữ có đánh dấu ở mức độ cao.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập cứ liệu: Thu thập khoảng 1.000 câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt được trích xuất từ các tác phẩm văn học Anh - Mỹ, văn học Việt Nam, các sách ngữ pháp, công trình chuyên khảo và hội thoại giao tiếp hàng ngày.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Kết hợp các thủ pháp nội bộ (phân loại, hệ thống hóa tư liệu, phân tích thành tố trực tiếp, đối lập) và thủ pháp bên ngoài (thống kê định lượng, định tính, miêu tả chức năng cú pháp).
  • Phương pháp đối chiếu: So sánh trực tiếp các kiểu câu đảo ngữ tiếng Anh với các dạng thức tương đương hoặc dị biệt trong tiếng Việt trên ba bình diện nghĩa: văn bản, liên nhân và biểu hiện.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt câu đảo ngữ vào ngữ cảnh, tình huống sử dụng cụ thể để làm rõ mục đích giao tiếp và hiệu quả nhấn mạnh thông tin.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt và cơ sở lý thuyết của luận án

Chương 1 xây dựng nền tảng lý thuyết và tổng thuật lịch sử vấn đề. Tác giả phân tích các khái niệm về thành phần câu trong tiếng Anh và tiếng Việt, đối sánh quan điểm ngữ pháp truyền thống với ngữ pháp chức năng hệ thống. Tiếp đó, chương khảo sát bản chất của trật tự từ, lý thuyết phân đoạn thực tại câu và các nguyên tắc phân bố thông tin (thông tin Cũ - thông tin Mới, Tiêu điểm). Phần trọng tâm của chương dành để trình bày chi tiết ba cấu trúc chức năng của M.A.K. Halliday: cấu trúc chuyển tác với 6 kiểu quá trình, cấu trúc Thức với sự phân định giữa thành phần Thức và Phần dư, và cấu trúc Đề - Thuyết với cơ chế đánh dấu Đề ngữ. Định nghĩa câu đảo ngữ được xác lập: câu đảo ngữ là hiện tượng thay đổi trật tự cú pháp chuẩn, đưa các tham tố hoặc vị từ lên vị trí làm Đề có đánh dấu nhằm nhấn mạnh đối lập hoặc tái cấu trúc tiêu điểm thông tin dưới sự điều chỉnh của mục đích giao tiếp.

Chương 2: Câu đảo ngữ tiếng Anh

Chương 2 khảo sát, mô hình hóa và miêu tả ngữ liệu câu đảo ngữ tiếng Anh thông qua việc phân loại thành 5 kiểu câu căn bản, phân tích chi tiết sự thể hiện của các tham tố qua các quá trình chuyển tác ở các dạng thức khẳng định, phủ định, nghi vấn và cảm thán:

  • Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ. Khảo sát các trường hợp đảo trực tiếp toàn bộ vị ngữ hoặc bổ ngữ, trạng ngữ chỉ phương hướng/địa điểm lên đầu câu mà không cần mượn trợ động từ. Phân tích sự biểu hiện trong các quá trình vật chất, quá trình hiện hữu và quá trình quan hệ qua các dạng câu khẳng định, phủ định, nghi vấn và cảm thán.
  • Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ. Phân tích các cấu trúc bị động có trợ động từ "be" đi kèm quá khứ phân từ, trong đó Đích thể hoặc Tiếp thể được đưa lên làm Đề ngữ đánh dấu nhằm tập trung sự chú ý vào thực thể chịu tác động, khảo sát qua dạng khẳng định và phủ định.
  • Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau. Phân tích cấu trúc tồn tại mở đầu bằng "there" hoặc trạng ngữ chỉ nơi chốn, trong đó Hiện hữu thể (Existent) bị đẩy lùi về phía sau vị từ vị ngữ mang nét nghĩa tồn tại/xuất hiện (exist, emerge, appear...).
  • Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong câu có thành phần đảo về phía trước. Đây là dạng tiền đảo (fronting) đưa các bổ ngữ trực tiếp, tính từ thuộc tính hoặc trạng ngữ lên trước chủ ngữ và trợ động từ (thường đi kèm hiện tượng đảo trợ động từ lên trước chủ ngữ khi đầu câu là từ phủ định/bán phủ định), khảo sát trong quá trình vật chất và các quá trình khác.
  • Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu). Phân tích cấu trúc câu chẻ (cleft sentences: "It is/was... that...") đóng vai trò như các yếu tố phụ trợ chêm xen nhằm định vị và làm nổi bật tiêu điểm thông tin của tham tố đảo.

Chương 3: Câu đảo ngữ tiếng Việt

Chương 3 áp dụng khung phân loại tương ứng để khảo sát câu đảo ngữ trong ngữ liệu tiếng Việt, chỉ ra các đặc trưng cấu trúc - chức năng của một ngôn ngữ không biến hình:

  • Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ. Tiếng Việt biểu hiện phong phú dạng đảo vị từ (động từ, tính từ) lên trước chủ ngữ trong câu miêu tả cảnh tượng hoặc câu cảm thán (ví dụ các trường hợp đảo vị ngữ như tác giả Đinh Trọng Lạc và Cao Xuân Hạo đã mô tả). Phân tích chi tiết qua các quá trình khẳng định, phủ định, nghi vấn và cảm thán.
  • Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ. Tiếng Việt sử dụng các tiểu từ bị động chuyên dụng ("bị", "được") làm yếu tố phụ trợ để chuyển dịch tham tố chịu tác động lên làm Đề ngữ đánh dấu ở đầu câu, khảo sát ở cả hai dạng khẳng định và phủ định.
  • Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau. Khảo sát các câu tồn tại định vị có cấu trúc "Trạng ngữ chỉ nơi chốn + Vị từ tồn tại/xuất hiện + Danh ngữ chỉ sự vật" (Hiện hữu thể đứng sau vị từ, ví dụ: "Trong nhà lô nhô mấy ông cụ...", "Ở trong, lù lù đi ra hai cái bóng...").
  • Kiểu 4: Nhấn mạnh chủ đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong cấu trúc câu có thành phần đảo về phía trước. Phân tích hiện tượng đưa bổ ngữ trực tiếp (Đích thể) hoặc trạng ngữ phương thức/nguyên nhân/mục đích lên đầu câu làm Đề đánh dấu (khởi ngữ/tiền đảo) trong quá trình vật chất và các quá trình khác.
  • Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu). Tiếng Việt sử dụng các từ liên kết chêm xen ("chính là...", "là...") để tạo tiêu điểm tương tự như cấu trúc câu chẻ, khảo sát ở dạng khẳng định.

Chương 4: So sánh câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4 tổng hợp dữ liệu định lượng và tiến hành đối chiếu cấu trúc - ngữ nghĩa câu đảo ngữ giữa hai ngôn ngữ dựa trên Bảng 4 (Bảng tổng hợp các kiểu câu đảo ngữ tổng quát trong tiếng Anh và tiếng Việt):

TT Kiểu câu đảo ngữ Tiếng Anh Tiếng Việt
1 Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu không có yếu tố phụ trợ Đảo toàn bộ vị từ hoặc thành phần phụ ngữ lên đầu câu; biến đổi trật tự S-V thành V-S hoặc Adj-S Đảo vị từ (động từ, tính từ) hoặc bổ ngữ lên trước danh từ chủ thể; phổ biến trong câu cảm thán, miêu tả
2 Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ Bắt buộc biến đổi hình thái vị từ qua trợ động từ "be" + quá khứ phân từ; tham tố chịu tác động làm Chủ ngữ Sử dụng tiểu từ phụ trợ ("bị", "được"), vị từ không biến đổi hình thái; tham tố chịu tác động làm Đề ngữ
3 Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu qua tham tố thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau Cấu trúc có chủ ngữ giả "there" hoặc trạng ngữ định vị đầu câu; Hiện hữu thể đứng sau động từ tồn tại Không dùng chủ ngữ giả; trạng ngữ chỉ nơi chốn kết hợp trực tiếp với vị từ tồn tại, Hiện hữu thể đứng sau
4 Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong câu có thành phần đảo về phía trước Tiền đảo bổ ngữ/trạng ngữ; bắt buộc đảo trợ động từ lên trước chủ ngữ nếu đầu câu là từ phủ định/hạn định Đưa bổ ngữ/trạng ngữ lên đầu câu làm Đề đánh dấu; trật tự nòng cốt C-V phía sau giữ nguyên, không đảo trợ từ
5 Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ Sử dụng mô hình câu chẻ ngữ pháp hóa ("It is/was... that/who...") Sử dụng kết cấu hư từ chêm xen nhấn mạnh ("Chính...", "Là...") đứng trước thành phần đảo

Chương 4 phân tích sâu hai phương diện:

  • Những biểu hiện tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều vận dụng cơ chế đưa các tham tố phi chủ ngữ lên vị trí đầu câu để hình thành Đề có đánh dấu; đều sử dụng câu tồn tại để hoãn giới thiệu Hiện hữu thể mang thông tin mới; đều dùng các phương tiện phụ trợ (câu bị động, câu chêm xen) để tiêu điểm hóa thông tin phục vụ mục đích nhấn mạnh.
  • Biểu hiện những điểm dị biệt: Bắt nguồn từ sự khác biệt loại hình học (tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình/phân tích tính, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập). Trong tiếng Anh, đảo ngữ chịu sự ràng buộc chặt chẽ của quy tắc ngữ pháp hình thức, đặc biệt là vị trí của thành phần Hữu định (trợ động từ) trong cấu trúc Thức (bắt buộc đảo trợ động từ lên trước chủ ngữ khi có yếu tố phủ định đầu câu). Ngược lại, tiếng Việt là ngôn ngữ thiên về cấu trúc Đề - Thuyết, việc di chuyển thành tố không làm biến đổi hình thái từ ngữ mà dựa hoàn toàn vào trật tự từ và hệ thống hư từ/tiểu từ tình thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống làm sáng tỏ các đặc điểm câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt đồng thời trên cả ba bình diện cấu trúc của ngữ pháp chức năng hệ thống: cấu trúc văn bản (Đề – Thuyết), cấu trúc liên nhân (Thức) và cấu trúc biểu hiện (chuyển tác).
  • Luận án đã mô hình hóa và phân loại câu đảo ngữ trong hai ngôn ngữ thành 5 kiểu cấu trúc cụ thể, phân tích cặn kẽ sự vận hành của các tham tố qua 6 quá trình chuyển tác ở các dạng thức khẳng định, phủ định, nghi vấn và cảm thán.
  • Luận án làm sáng tỏ một cách khoa học những điểm tương đồng và dị biệt về cơ chế ngữ pháp - chức năng của hiện tượng đảo ngữ giữa một ngôn ngữ biến hình có tính phân tích (tiếng Anh) và một ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt).

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án đóng góp giải pháp và phương pháp cụ thể trong việc phân tích, giải thích và giảng dạy các kiểu cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh thông qua việc đối chiếu với tiếng Việt.
  • Kết quả đối chiếu giúp người học ngoại ngữ hiểu rõ bản chất chức năng của các cấu trúc nhấn mạnh, tránh lỗi chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ, từ đó sử dụng hiệu quả câu đảo ngữ nhằm đạt được các mục đích giao tiếp cụ thể.
  • Đóng góp tư liệu và cơ sở đối chiếu phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt, cũng như nâng cao chất lượng hoạt động dịch thuật Anh - Việt và Việt - Anh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi ngữ liệu gồm khoảng 1.000 câu đảo ngữ được trích chọn chủ yếu từ các tác phẩm văn học Anh - Mỹ, văn học Việt Nam, sách ngữ pháp và một phần giao tiếp thường nhật. Luận án tập trung vào phân tích định tính và miêu tả chức năng ngữ pháp, do đó chưa bao quát hết toàn bộ các phong cách chức năng ngôn ngữ khác như văn bản báo chí, chính luận hay văn bản khoa học kỹ thuật.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng khảo sát hiện tượng đảo ngữ trên các kho ngữ liệu quy mô lớn hơn thuộc nhiều thể loại diễn ngôn đa dạng. Đồng thời, việc ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống có thể được phát triển để khảo sát sâu hơn các cấu trúc nhấn mạnh khác ngoài câu đảo ngữ trong tương quan đối chiếu liên ngôn ngữ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Anh và Sư phạm Ngữ văn: Phần trình bày cơ sở lý thuyết tại Chương 1 cung cấp cái nhìn sáng rõ, chuẩn xác về cách vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday vào phân tích cú pháp cụ thể.
  • Giảng viên giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh và ngữ pháp tiếng Việt: Cung cấp nguồn ngữ liệu đối chiếu phong phú và khung phân loại 5 kiểu câu đảo ngữ (Chương 2, Chương 3, Chương 4), giúp thiết kế bài giảng về cấu trúc nhấn mạnh một cách trực quan, dễ hiểu.
  • Người làm công tác dịch thuật: Giúp nhận diện chính xác các sắc thái ý nghĩa văn bản và liên nhân của câu đảo ngữ trong nguyên bản tiếng Anh để lựa chọn cấu trúc tương đương trong bản dịch tiếng Việt mà không làm sai lệch cấu trúc thông tin.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận câu đảo ngữ theo khung lý thuyết ngôn ngữ học nào? Luận án tiếp cận câu đảo ngữ theo lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic Functional Grammar) của M.A.K. Halliday (1994, 2002), khảo sát câu đảo ngữ đồng thời trên ba bình diện: cấu trúc Đề – Thuyết (chức năng tạo văn bản), cấu trúc Thức (chức năng liên nhân) và cấu trúc Chuyển tác (chức năng biểu hiện/kinh nghiệm).

2. Luận án phân chia câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt thành mấy kiểu cấu trúc cơ bản? Cả trong tiếng Anh (Chương 2) và tiếng Việt (Chương 3), luận án đều phân loại và mô hình hóa câu đảo ngữ thành 5 kiểu cơ bản:

  • Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu không có yếu tố phụ trợ.
  • Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ.
  • Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau.
  • Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu qua tham tố đảo trong câu có thành phần đảo về phía trước.
  • Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ.

3. Dung lượng và nguồn gốc ngữ liệu nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào? Nguồn ngữ liệu của luận án gồm khoảng 1.000 câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt được chọn lọc và trích dẫn từ bốn nguồn chính: các tác phẩm văn học Anh - Mỹ, các tác phẩm văn học Việt Nam, các sách ngữ pháp và công trình nghiên cứu chuyên khảo, cùng ngữ liệu hội thoại trong giao tiếp hàng ngày.

4. Điểm khác biệt căn bản về cơ chế đảo ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt được luận án chỉ ra là gì? Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình có tính phân tích, câu đảo ngữ chịu sự ràng buộc chặt chẽ của quy tắc cấu trúc Thức (như việc bắt buộc đảo thành phần Hữu định/trợ động từ lên trước chủ ngữ khi có từ phủ định đầu câu) và biến đổi hình thái động từ (như trong câu bị động). Ngược lại, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, cơ chế đảo ngữ chủ yếu dựa vào sự hoán đổi trật tự từ để tạo Đề đánh dấu hoặc sử dụng các hư từ, tiểu từ chuyên dụng ("bị", "được", "chính là") mà không làm thay đổi hình thái của từ.

5. Cấu trúc chuyển tác trong luận án bao gồm những kiểu quá trình nào? Theo lý thuyết của Halliday được tác giả trình bày, cấu trúc chuyển tác gồm 6 kiểu quá trình: quá trình vật chất (material), quá trình tinh thần (mental), quá trình quan hệ (relational), quá trình hành vi (behavioural), quá trình phát ngôn (verbal) và quá trình hiện hữu (existential).

Kết luận

Luận án "Câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt" của tác giả Phạm Thị Hà là công trình chuyên khảo đối chiếu ngôn ngữ học được xây dựng công phu dựa trên nền tảng lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday. Bằng việc phân tích ngữ liệu 1.000 câu đảo ngữ qua ba bình diện cấu trúc Đề - Thuyết, cấu trúc Thức và cấu trúc Chuyển tác, luận án đã xác lập thành công mô hình 5 kiểu câu đảo ngữ đặc trưng trong hai ngôn ngữ. Kết quả so sánh đối chiếu của công trình đã làm sáng tỏ những nét tương đồng mang tính phổ quát và những dị biệt do loại hình học chi phối giữa tiếng Anh và tiếng Việt, mang lại giá trị thiết thực cho công tác nghiên cứu lý luận, biên soạn giáo trình và thực hành giảng dạy ngoại ngữ.