CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY TNHH AN THỊNH 1. Đặc điểm lao động của công ty trách nhiệm hữu hạn An Thịnh. Công ty trách nhiệm hữu hạn An Thịnh là một Công ty có quy mô sản xuất tương đối lớn nên sử dụng nhiều lao động. Và không như các Công ty trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, phần lớn lao động trong Công ty là lao động trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm.
Theo số liệu tính đến T12/2013 Công ty có đến 215 lao động chiếm 87% số lao động trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm tại các phân xưởng. Lao động là một bộ phận quan trọng của công ty vì vậy phải bố trí phù hợp năng lực sản xuất và trình độ tay nghề. Bên cạnh đó phải dựa vào kết quả tiêu thụ thành phẩm mà bố trí lực lượng sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường tiêu thụ. Theo số liệu tính đến tháng 12/2013 số công nhân viên của công ty là 247 người.
Trong đó: - Phân xưởng số 1 có: 78 người - Phân xưởng số 2 có: 96 người - Phân xưởng phụ kiện có: 41 người - Văn phòng công ty và một số bộ phận khác là 32 người Bộ phận lao động thuộc phòng ban và các bộ phận khác của công ty gồm 32 người. Đây là bộ phận lao động gián tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh. Tiền lương và các khoản trích theo lương được hạch toán vào giá thành toàn bộ trong khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp. Bộ phận lao động quản lý sản xuất tại các phân xưởng của công ty.
Bộ phận này quản lý trực tiếp nhân công tại phân xưởng, đối với tổ trưởng tổ sản GVHD - Ths. Nguyễn Thị Mai Anh Sv - Nguyễn Thị Thanh Nga 9 Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp xuất thì ngoài nhiệm vụ sản xuất ra thì họ còn kiêm thêm phần trách nhiệm đối với công việc của tổ đang sản xuất. Bộ phận lao động trực tiếp: đây là số công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Số công nhân này được chia thành 3 phân xưởng.
Mỗi phân xưởng chịu trách nhiệm một khâu của sản phẩm hoàn thành và chịu hoàn toàn số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm hoàn thành. Phân loại lao động của Công ty. Nền sản xuất xã hội phát triển càng cao thì sự phân công lao động xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc và chặt chẽ. Việc xã hội hoá nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội hoá sức lao động con người ngày càng nhiều hơn.
Vấn đề đặt ra công tác quản lý lao động trong sản xuất kinh doanh phải thực hiện thế nào sao cho hợp lý nhất. Do đó quản lý sức lao động hay quản lý nhân sự thực chất là quản lý con người mà quản lý con người là cả một nghệ thuật và là một vấn đề cần thiết do đó người quản lý phải quyết định hợp lý. Hiện nay quản lý lao động trong sản xuất kinh doanh là vấn đề trọng yếu nhất của quá trình sản xuất kinh doanh vì chất lượng sản phẩm hàng hoá tạo ra là phụ thuộc vào chính người lao động. Mà chất lượng đó thì chỉ có người lao động quyết định thông qua hiệu quả kinh tế do chất lượng lao động mang lại.
Công tác quản lý lao động là cơ sở của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý. Để thuận lợi cho việc quản lý doanh nghiệp phân loại và thống kê lao động theo một số tiêu thức sau: GVHD - Ths. Nguyễn Thị Mai Anh Sv - Nguyễn Thị Thanh Nga 10 Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp Bảng 1: Phân loại lao động. Stt Tiêu thức phân loại Số tuyệt đối Số tương (công nhân) đối (%) 1 Theo bộ phận sản xuất - Px1 78 31,5 - Px2 96 38,9 - Px phụ kiện 41 16,6 - Bộ phận văn phòng và bộ phận khác 32 13 2 Theo giới tính - Nam 68 27,5 - Nữ 179 72,5 3 Theo trình độ - Đại học và trên đại học 30 12,2 - Cao đẳng 25 10,1 - Trung cấp 19 7,7 - Phổ thông 173 70 Qua bảng phân loại lao động ta thấy.
Nếu như theo bộ phận sản xuất số lao động trực tiếp tham gia sản xuất là 215 (chiếm 87% số lao động) phần lớn lao động trực tiếp tham gia sản xuất. Mặc dù cần nhiều lao động tham gia trực tiếp sản xuất lao động nặng nhưng tỷ lệ lao động giữa nam và nữ cũng khá cân bằng. Số lao động có trình độ đại học và sau đại học của Công ty là 30 người chiếm 12,2% số lượng lao động. Con số này là còn thấp, chưa tương xứng với quy mô và vị thế của Công ty.
Như vậy trong thời gian tới Công ty GVHD - Ths. Nguyễn Thị Mai Anh Sv - Nguyễn Thị Thanh Nga 11 Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp cần phải chú ý nâng cao trình độ cho lao động của Công ty và chú ý trong khâu tuyển dụng đầu vào. Bên cạnh đó cúng ta cũng thấy được việc phân loại lực lượng lao động như trên cho phép Công ty quản lý tốt sự biến động của lực lượng lao động đồng thời làm cơ sở cho việc tính toán, thanh toán lương gọn nhẹ, chính xác và hợp lý. Các hình thức trả lương của Công ty trách nhiệm hữu hạn An Thịnh.
Các hình thức trả lương. Hiện nay, để khuyến khích người lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm công ty đã áp dụng trả lương theo là: 1. Hình thức tiền lương thời gian. Theo hình thức này, tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc hoặc chức danh và thang lương theo quy định.
Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của công ty mà tính trả lương theo thời gian có thể thực hiện theo hai cách: - Lương thời gian giản đơn: là tiền lương được tính theo thời gian làm việc và đơn giá lương thời gian. Lương thời gian giản đơn được chia thành: + Lương tháng: tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có), thường được áp dụng trả cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. + Lương ngày: được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ (26 ngày), lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả CNV, tính trả lương cho CNV trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng. Nguyễn Thị Mai Anh Sv - Nguyễn Thị Thanh Nga 12 Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp + Lương giờ: được tình bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày theo chế độ (8 giờ), lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.
- Lương thời gian có thưởng: là hình thức tiền lương thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất. Ví dụ: Lương anh Mai Văn Anh có hệ số cấp bậc lương là 3,33 với chức danh trưởng phòng ( Hệ số chức danh trách nhiệm là 2.7 ) trong tháng 4/2013 có 26 công sản xuất trong đó có 2 công ốm được duyệt. Lương tháng của anh Anh trong tháng 4/2013 được xác định như sau: TLtháng = TLtg + TLBH 1.225 (đồng) 26 26 Hình thức tiền lương thời gian có ưu điểm là dễ tính toán. Tuy nhiên nó vẫn còn những hạn chế nhất định, đó là chưa gắn tiền lương với chất lượng và kết quả lao động.
Vì vậy, công ty cần kết hợp với các biện pháp khuyến khích vật chất, kiểm tra chấp hành kỷ luật lao động nhằm tạo cho người lao động tự giác làm việc, làm việc có kỷ luật và năng xuất cao. Hình thức tiền lương sản phẩm Theo hình thức này, tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc khối lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu. Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động, đơn giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ. Nguyễn Thị Mai Anh Sv - Nguyễn Thị Thanh Nga 13 Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Chuyên đề tốt nghiệp Hình thức tiền lương sản phẩm gồm: - Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá lương sản phẩm (không hạn chế số lượng sản phẩm hoàn thành).
Hình thức này được công ty sử dụng phổ biến để tính lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm. Tiền lương phải trả = Đơn giá tiền lương 1đvsp x Số lượng sp hoàn thành Cho người lao động - Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận (phân xưởng) sản xuất như công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị… Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trưc tiếp (công nhân trực tiếp sản xuất) để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất. - Tiền lương sản phẩm có thưởng: Là kết hợp trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp và chế độ tiền thưởng trong sản xuất (thưởng tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm) - Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến: Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền lương tính theo tỉ lệ luỹ tiến căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động của họ. Hình thức này áp dụng ở những khâu sản xuất quan trọng cần thiết phải đẩy nhanh tiến độ sản xuất hoặc cần động viên công nhân phát huy sáng kiến phá vỡ định mức lao động cũ.