CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT-BTC 1.1 Khái quát chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất theo thông tư 200/2014/TT-BTC 1.1 Chi phí sản xuất Thực chất của hoạt động SXKD của doanh nghiệp là sự chuyển hóa của các yếu tố sản xuất đầu vào tạo thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.1 Khái niệm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là khoản chi phí doanh nghiệp phải chi trả để mua tất cả các yếu tốt đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, tạo ra sản phẩm nhằm hướng đến mục tiêu thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chi phí sản xuất đóng vai trò quan trọng tác động đến việc xác định chính xác giá thành của sản phẩm, hàng hóa. Khi xác định rõ ràng chi phí sản xuất, doanh nghiệp sẽ xác định chính giá giá thành sản phẩm, giúp doanh nghiệp dễ dàng thu về lợi nhuận.
Trong nền kinh tế cạnh tranh và hiện đại ngày nay, doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến chi phí sản xuất và tìm cách tối ưu hóa lợi nhuận, thông qua việc giảm thiểu chi phí sản xuất để tăng nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.2 Phân loại chi phí sản xuất Chi phí có rất nhiều loại, vì vậy, để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán chi phí sản xuất đáp ứng nhu cầu kế toán và việc ra quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất cần được phân loại theo các tiêu thức phù hợp. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức sau: Phân loại theo yếu tố chi phí Việc phân loại này nhằm phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh. Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Bao gồm các nội dung sau: - Chi phí NVL: bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu… mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ (Ngoại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi) 1 - Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: gồm toàn bộ chi phí phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương, tiền ăn giữa các ca và các khoản trích theo lương như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN theo tỷ lệ quy định.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ được sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã trả cho các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền, điện, nước, điện thoại… phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. - Chi phí bằng tiền khác: gồm toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu tố chi phí đã nêu ở trên phục vụ cho hoạt động sản xuất trong kỳ. Cách phân loại này có tác dụng lớn trong quản lý chi phí sản xuất.
Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh BCTC và cung cấp tài liệu để lập dự toán chi phí sản xuất. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm Cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục. Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của phi phí, mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế nào.
Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm chi phí về NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu… tham gia vào quá trình chế tạo sản xuất sản phẩm. Chi phí này không bao gồm những chi phí NVL sử dụng cho mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất. - Chi phí nhân công trực tiếp: gồm chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp có tính chất lương cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ của lao động trực tiếp sản xuất. - Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí ngoài 2 loại chi phí chính nêu trên, gồm những chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng sản xuất.
Cụ thể bao gồm các khoản: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. 2 Thư viện ĐH Thăng Long Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính toán, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm. Làm cơ sở lập định mức chi phí sản xuất và kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau. Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng công việc hoàn thành Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí SXKD được phân theo mối quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành.
Theo cách này, chi phí được chia thành: - Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí thay đổi so với khối lượng việc hoàn thành, chẳng hạn: chi phí về nguyên liệu, nhân công… Tuy nhiên, biến phí nếu được tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định. - Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không đổi so với khối lượng công việc hoàn thành như các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng… Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi. - Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của định phí, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của biến phí.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị… Cách phân loại này có tác dụng lớn trong quản trị kinh doanh, phân tích điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết. Phân loại theo mối quan hệ giữa các chi phí sản xuất với đối tượng chịu phí - Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định. Kế toán có thể căn cứ vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho những đối tượng chịu chi phí. - Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc.
Kế toán tập hợp chứng từ sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn hợp lý. Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý nhằm phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.2 Giá thành sản phẩm 1.1 Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng tài sản vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí, lao động sống.
Kết quả thu được là sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.2 Phân loại giá thành sản phẩm Phân loại giá thành giúp cho kế toán nghiên cứu và quản lý, hạch toán tốt giá thành sản phẩm và cũng đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng giá cả sản phẩm. Dựa vào tiêu thức khác nhau và xét dưới nhiều góc độ mà người ta phan thành các loại giá thành khác nhau. Phân loại giá thành theo thời điểm và nguồn số liệu Theo căn cứ này thì giá thành được chia thành ba loại: - Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào sản xuất trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
Giá thành kế hoạch là giá thành mà các doanh nghiệp lấy nó làm mục tiêu phấn đấu, nó là căn cứ để so sánh phân tích đánh giá tình hình thực hiện hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. - Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm và là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng vật tư, tài sản lao động trong sản xuất. Giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sư thay đổi của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất.