CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XÂY DỰNG 99 1. ĐẶC ĐIỂM NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XÂY DỰNG 99. Đặc điểm VL, CCDC. - NVL là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
- CCDC là những tư liệu lao động không đủ điều kiện (về giá trị và giá trị sử dụng), tiêu chuẩn để trở thành tài sản cố định. Nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, toàn bộ giá trị chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm vào trong giá thành hay vào trong chi phí sản xuất trong kỳ. - CCDC có những loại có giá trị lớn nhưng thời gian sử dụng ngắn, có thể tham gia vào một hoặc nhiều chu kỳ sản xuất, chuyển dịch dần dần. Có loại giá trị nhỏ thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị chuyển dịch dần dần.
Có loại giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và giá trị của nó chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm. Phân loại về vật liệu. Vật liệu sử dụng trong các doanh nghiệp có rất nhiều loại với quy cách, phẩm chất, công dụng, mục đích sử dụng, nguồn hình thành khác nhau. Trong điều kiện đó, nhất thiết phải phân loại vật liệu thì mới có thể tổ chức quản lý và hạch toán chặt chẽ vật liệu được.
Phân loại vật liệu là sắp xếp các thứ vật liệu cùng loại với nhau theo một đặc trưng nhất định thành từng nhóm. Có rất nhiều tiêu thức để phân loại vật liệu như theo nguồn hình thành, theo quyền sở hữu. Theo công dụng kinh tế, tức là xem các vật liệu theo vai trò tác SV: Vũ Anh Thuỳ 4 MSV:12130476 Chuyên đề thực tâp chuyên ngành GVHD: ThS. Lê Quang Dũng dụng và yêu cầu kế toán quản trị của chúng trong sản xuất kinh doanh vật liệu ở đơn vị được chia thành các loại sau : Nguyên liệu và vật liệu chính.
Là đối tượng lao động chủ yếu, là cơ sở vật chất trong doanh nghiệp. Là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Do vậy, khái niệm nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp cụ thể. Trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ.
không đặt ra khái niệm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ. Vật liệu chính trong các doanh nghiệp xây lắp là gạch, ngói, xi măng sắt thép nhựa đường. trong các xí nghiệp may là vải, trong xí nghiệp cơ khí là sắt thép. Nguyên liệu, vật liệu chính cũng bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm.
Vật liệu phụ. Vật liệu phụ cũng là đối tượng lao động,là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất,chế tạo sản phẩm không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà chỉ có tác dụng phụ trợ, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, tăng chất lượng sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường như mỡ bôi trơn, dầu nhờn, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc chống ẩm, sơn. vật liệu phụ cho quá trình lao động như xà phòng rửa tay, dẻ lau. Bao gồm các loại thể lỏng, khí, rắn để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, dùng để tạo ra nhiệt năng cho quá trình sản xuất kinh doanh như than đá, than bùn, củi, xăng, dầu, hơi đốt.
Thực chất nhiên liệu là một loại vật liệu phụ nhưng do đặc tính lý, hoá học hoàn toàn khác với loại vật liệu phụ thông thường khác và do vai trò quan trọng của nhiên liệu đối với nền SV: Vũ Anh Thuỳ 5 MSV:12130476 Chuyên đề thực tâp chuyên ngành GVHD: ThS. Lê Quang Dũng kinh tế quốc dân nên nhiên liệu được xếp thành một loại riêng. Thuộc nhiên liệu gồm có : Nhiên liệu trực tiếp dùng cho sản xuất gồm: sử dụng cho máy móc, thiết bị làm việc hoặc tạo điều kiện bình thường cho lao động : xăng, dầu chạy máy, thắp sáng, sưởi ấm. Phụ tùng thay thế.
Là những loại vật tư, sản phẩm chi tiết dùng để thay thế, sửa chữa máy móc. thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất khi bị hư hỏng hoặc mất mát. Thuộc loại này gồm có : vòng bi, săm lốp, ốc vít, van cao su, trục bánh xe. Những loại này do doanh nghiệp bỏ tiền mua sắm để dự trữ.
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản. Là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản. Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý TSCĐ có thể sử dụng hay bán ra ngoài: phôi bào, vải vụn, gạch,sắt… Vật liệu khác.
Bao gồm các loại VL còn lại ngoài các thứ chưa kể trên như bao bì, vật đóng gói,các loại vật tư đặc chủng… Cách phân loại trên đây được dựa theo vai trò và tác dụng khác nhau của vật liệu trong quá trình sản xuất. Do quá trình sản xuất cụ thể được tiến hành ở các doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau nên việc phân định vật liệu như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối. Trong các doanh nghiệp xây lắp vật liệu cũng được phân thành vật liệu chính, vật liệu phụ. nhưng tính chất của chúng đều là các vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản.
SV: Vũ Anh Thuỳ 6 MSV:12130476 Chuyên đề thực tâp chuyên ngành GVHD: ThS. Lê Quang Dũng Ngoài cách phân loại trên, vật liệu còn được phân theo nguồn hình thành (mua ngoài hay tự sản xuất) theo quyền sở hữu (của doanh nghiệp hay của chủ sở hữu khác bên ngoài). Phân loại công cụ dụng cụ. Theo quy định hiện hành công cụ, dụng cụ là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn quy định để xếp vào TSCĐ.
Vì vậy mặc dù công cụ, dụng cụ có những đặc điểm như TSCĐ nhưng lại được quản lý và hạch toán như nguyên liệu, vật liệu :Các lán trại tạm thời, đà ráo, công cụ trong XDCB, dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất. Tuy được quản lý và hạch toán như vật liệu, nhưng thực tế công cụ, dụng cụ có đặc điểm khác với vật liệu đó là: - Công cụ, dụng cụ thường tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong quá trình sử dụng chúng giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. - Về mặt giá trị trong quá trình sử dụng, công cụ, dụng cụ hao mòn dần chuyển từng phần giá trị của chúng vào chi phí SXKD. Bởi vậy để tính chính xác phần giá trị của công cụ, dụng cụ phân bổ vào chi phí sản xuất, kế toán phân bổ theo công thức sau: Mức phân bổ giá trị Giá trị CC,DC xuất CC,DC cho một kỳ = dùng số kỳ (số lần) (1lần) sử dụng dự kiến sử dụng 1.
ĐẶC ĐIỂM LUÂN CHUYỂN VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XÂY DỰNG 99. Thủ tục nhập VL,CCDC. Căn cứ vào giấy báo nhận hàng về đến nơi kế toán làm thủ tục nhập kho gồm : Phiếu nhập kho ( mẫu số 01- VT ) Biên bản kiểm kê vật tư sản phẩm hàng hoá ( mẫu số 08 –VT ) SV: Vũ Anh Thuỳ 7 MSV:12130476 Chuyên đề thực tâp chuyên ngành GVHD: ThS. Lê Quang Dũng 1.
Thủ tục xuất VL,CCDC. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, các bộ phận sản xuất viết phiếu xin lĩnh vật tư Căn cứ vào phiếu xin lĩnh vật tư kế toán viết phiếu xuất kho Phiếu xuất kho ( mẫu số 02-VT ) Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ ( mẫu số 03 – VT ) Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho ( mẫu số 02 - BH ) 1. Đặc điểm luân chuyển nhập nguyên vật liệu của công ty. Khi có phát sinh nhu cầu về NVL của các đội công trình trong quá trình thi công và thủ kho báo thiếu NVL xuất dùng yêu cầu cần nhập mua mới hoặc kế toán đối chiếu lượng hàng tồn kho thấy thấp hơn lượng hàng tồn kho tối thiểu theo kế hoạch của công ty và yêu cầu mua thêm bổ sung.
Khi đó phòng kỹ thuật thiết bị vật tư căn cứ vào tình hình sử dụng vật tư và định mức kỹ thuật để lên kế hoạch cung ứng, dự trữ vật tư trong kỳ. Dựa trên kế hoạch cung ứng vật tư, phòng kỹ thuật thiết bị vật tư lấy giấy báo giá vật tư, lập bảng dự trữ mua vật tư và chuyển qua cho giám đốc duyệt. Sau đó phòng kỹ thuật thiết bị vật tư tiến hành thu mua NVL. Việc thu mua NVL được tiến hành trên cơ sở thoả thuận giữa hai bên công ty và bên cung cấp.
Hình thức thanh toán cũng được thoả thuận phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Thông thường trước khi thực hiện một công trình hay dự án, phòng kỹ thuật thiết bị vật tư kết hợp với phòng khoa học kỹ thuật sẽ tiến hành tính toán lập định mức vật tư sau đó nghiên cứu tìm hiểu nhà cung cấp vật liệu đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật đồng thời tiết kiệm được chi phí vận chuyển để ký hợp đồng. Chính vì vậy nhà cung cấp vật tư thường là các công ty có uy tín trong kinh doanh, những bạn hàng lâu năm của công ty nên quá trình cung cấp NVL diễn ra đúng kế hoạch, đủ về chủng loại và số lượng, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và hiệu SV: Vũ Anh Thuỳ 8 MSV:12130476 Chuyên đề thực tâp chuyên ngành GVHD: ThS. Lê Quang Dũng quả kinh doanh.
Và NVL công ty mua thường có đặc điểm cồng kềnh, số lượng nhiều nên nhà cung cấp thường cũng là người chuyên chở vật liệu đến các kho tại chân công trình. Sau khi nhân viên kỹ thuật phòng kỹ thuật thiết bị vật tư kiểm tra chất lượng, quy cách, số lượng NVL nếu đạt yêu cầu thì sẽ được nhập kho. Đặc điểm luân chuyển xuất nguyên vật liệu của công ty.