CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP CNTT 1.1 Một số vấn đề về kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp công nghệ thông tin 1.1 Hoạt động kinh doanh dịch vụ công nghệ thông tin 1.1 Khái niệm dịch vụ công nghệ thông tin Dịch vụ là một ngành trong nền kinh tế quốc dân bao gồm các hoạt động kinh tế nằm ngoài sản xuất vật chất. Với tư cách là kết quả của một hoạt động sản phẩm DV là kết quả của một hoạt động sinh ra do tiếp xúc với bên cung ứng và khách hàng cùng các hoạt đông nội bộ của bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng (theo ISO 8402). Trong nền kinh tế thì trường hiện nay có rất nhiều các ngành dịch vụ như dịch vụ vận tải, dịch vụ nhà hàng khách sạn, dịch vụ du lịch. Em xin tập trung nghiên cứu vào dịch vụ công nghệ thông tin và kinh doanh dịch vụ này.
Công nghệ thông tin là sự hòa nhập của máy tính với công nghệ viễn thông được thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử. Dịch vụ công nghệ thông tin là hoạt động thương mại nhằm hỗ trợ quá trình ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đảm bảo an toàn thông tin bao gồm: tư vấn nghiên cứu, phân tích, hỗ trợ sản xuất, gia công, tân trang, tái chế, đào tạo phát hành phân phối, vận hành, bảo hành, duy trì quản lý , đảm bảo an toàn và các hoạt động công nghệ thông tin khác. Dịch vụ công nghệ thông tin gồm: Nhóm dịch vụ tư vấn công nghệ thông tin như tư vấn về dự án công nghệ thông tin, tư vấn về giải pháp công nghệ thông tin. Nhóm dịch vụ phần cứng điện tử như hỗ trợ sản xuất và gia công phần cứng điện tử, tân trang tái chế và làm mới phần cứng điện tử.
Nhóm dịch vụ phần mềm như sản xuất và đóng gói phần mềm, chỉnh sửa bổ sung tính năng phần mềm. Nhóm dịch vụ an toàn thông tin như dịch vụ thiết kế, xây dựng các giải pháp sản phẩm an toàn thông tin, dịch vụ chứng thực chữ ký số chữ ký điện tử. Dịch vụ tích hợp hệ thống thông tin. Bùi Thị Nhật Lớp: KTDND_K12 Khóa luận tốt nghiệp -4- Học Viện Ngân Hàng Kinh doanh dịch vụ công nghệ thông tin là hoạt động thương mại trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết, theo đó một tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện cho một tổ chức, cá nhân khác (khách hàng) một hoặc nhiều dịch vụ công nghệ thông tin và nhận thanh toán từ khách hàng cho việc cung ứng và sử dụng dịch vụ này.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ công nghệ thông tin Hoạt động kinh doanh công nghệ thông tin mang những đặc điểm chung của ngành kinh doanh dịch vụ như: Sản phẩm không mang hình thái vật chất cụ thể.
Sản phẩm hoàn thành không nhập kho thành phẩm hoặc hàng hóa mà được tính là tiêu thụ ngay. Ngoài ra dịch vụ công nghệ thông tin còn mang một số đặc điểm như: Được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng đã ký với chủ đầu tư sau khi trúng thầu. Trong hợp đồng hai bên đã ký với nhau về giá trị, thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác. Dịch vụ thường mang tính đơn chiếc, thời gian để hoàn thành việc cung cấp dịch vụ thường kéo dài hơn một kỳ kế toán tháng.2 Các phương thức thanh toán Việc quản lý thanh toán đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, khi quản lý tốt về thanh toán các doanh nghiệp tránh được tổn thất về tiền, chiếm dụng vốn, tạo điều kiện quay vòng vốn sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập cho doanh nghiệp.
Hiện nay các doanh nghiệp thường áp dụng các hình thức thanh toán sau: a) Thanh toán ngay Là phương thức thanh toán mà sau doanh nghiệp hoàn thành việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng thanh toán tiền ngay cho doanh nghiệp, có thể bằng tiền mặt hoặc các hình thức khác như chuyển khoản, UNC. b) Thanh toán trả chậm Là hình thức thanh toán mà khách hàng thanh toán cho doanh nghiệp sau một thời gian đã được thỏa thuận, do đó hình thành một khoản nợ phải thu đói với doanh nghiệp và một nghĩa vụ nợ phải trả đối với khách hàng. Hình thức thanh toán này thường áp dụng với các khách hàng truyền thống có uy tín lâu năm đối với doanh Bùi Thị Nhật Lớp: KTDND_K12 Khóa luận tốt nghiệp -5- Học Viện Ngân Hàng nghiệp. Nếu khách hàng thanh toán trước thời hạn thanh toán trong hợp đồng thì có thể được hược một khoản chiết khấu thanh toán, nếu khách hàng thanh toán sau quy định thì có thể phải trả khoản lãi trên số tiền quá hạn.
c) Thanh toán trước Là hình thức thanh toán mà doanh nghiệp có thể yêu cầu khách hàng thanh toán trước một khoản nào đó trước khi cung cấp dịch vụ.3 Xác định kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được biểu thị bằng số lãi hay lỗ. Kế toán xác định kết quả kinh doanh cung cấp một cách đầy đủ thông tin cho người sử dụng về tình hình kinh doanh và kết quả các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo để từ đó có thể đưa ra quyết đinh kinh tế của mình.2 Nội dung của kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ và các khoản giảm trừ DT 1.1 Kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ a) Khái niệm, cách xác định, và nguyên tắc ghi nhận doanh thu cung cấp DV Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán số 14 về "Doanh thu và thu nhập khác" thì doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu" Cung cấp dịch vụ là thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán. Cụ thể đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin thì doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán từ việc cung cấp các hệ thống thông tin tích hợp, các giải pháp phần mềm, tư vấn giải pháp bảo mật thông tin. theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Xác định doanh thu cung cấp dịch vụ Việc xác định doanh thu cung cấp dịch vụ tuân theo nguyên tắc chung về xác định doanh thu trong chuẩn mực kế toán số 14 "Doanh thu và thu nhập khác". Theo chuẩn mực này, doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của khoản đã Bùi Thị Nhật Lớp: KTDND_K12 Khóa luận tốt nghiệp -6- Học Viện Ngân Hàng thu hoặc sẽ thu được. Trong đó giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán tự nguyện giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá. Từ nội dung trên ta thấy một số vấn đề như sau: Thứ nhất, Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản.
Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. Thứ hai, Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai. Thứ ba, Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ Theo chuẩn mực 14 doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận như sau: "Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau: Bùi Thị Nhật Lớp: KTDND_K12 Khóa luận tốt nghiệp -7- Học Viện Ngân Hàng (a) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (b) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp DV đó; (c) Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng CĐKT. (d) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp DV đó. Theo quy định trên trong một số trường hợp cụ thể doanh thi được quy định như sau: Thứ nhất, Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành.
Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.