Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành xây dựng cơ bản giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Do đặc thù sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công kéo dài và mang tính chất đơn chiếc theo từng địa bàn, các đơn vị thi công phải đối mặt với nhiều rủi ro và áp lực cạnh tranh. Trong điều kiện cơ chế thị trường, việc quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất và tính đúng, tính đủ giá thành công trình trở thành điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Thông tin kế toán về chi phí và giá thành cung cấp căn cứ để nhà quản trị đánh giá việc sử dụng vật tư, tiền vốn, thiết bị máy móc, từ đó đề ra các biện pháp hạ giá thành công trình mà vẫn bảo đảm tiến độ và chất lượng kỹ thuật.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
- Trình bày và phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp 11 – Chi nhánh Tổng Công ty 319 Bộ Quốc phòng.
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành tại đơn vị nghiên cứu.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra bao gồm:
- Việc áp dụng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong Xí nghiệp 11 được thực hiện như thế nào?
- Các vấn đề nghiên cứu liên quan đến lý luận chung đã gắn liền với thực tiễn hoạt động tại Xí nghiệp hay chưa?
- Công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp có đạt được hiệu quả quản lý hay không?
- Những giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả bộ máy kế toán của Xí nghiệp trong tương lai?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại đơn vị thi công.
- Phạm vi không gian: Xí nghiệp 11 – Chi nhánh Tổng Công ty 319 Bộ Quốc phòng (trụ sở tại số 145/154 đường Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực tế chuyên sâu tập trung vào Quý IV năm 2019, kết hợp phân tích các chỉ tiêu tài chính giai đoạn 2015 – 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận tập trung vào bản chất kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành trong ngành xây dựng cơ bản. Chi phí sản xuất xây lắp phản ánh toàn bộ hao phí về lao động sống (tiền lương, các khoản phụ cấp và trích theo lương) cùng lao động vật hóa (nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, chi phí sử dụng công cụ, máy thi công) phát sinh trong quá trình thi công. Về phân loại giá thành, tác giả hệ thống hóa ba loại giá thành cơ bản:
- Giá thành dự toán: Xác định trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá Nhà nước, bằng giá trị dự toán trừ đi phần lãi định mức.
- Giá thành kế hoạch: Xác định dựa trên điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về biện pháp thi công và mức hạ giá thành kế hoạch so với dự toán.
- Giá thành thực tế: Biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí thực tế phát sinh để hoàn thành khối lượng xây lắp, bao gồm chi phí định mức, chi phí vượt định mức và chi phí ngoài định mức được chấp nhận hạch toán.
- Giá thành khối lượng hoàn thành quy ước: Áp dụng cho các giai đoạn công việc nằm trong thiết kế, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý được bên giao thầu nghiệm thu.
Về phương pháp hạch toán, tác giả trình bày hai phương pháp kế toán hàng tồn kho: phương pháp kê khai thường xuyên (sử dụng các tài khoản 621, 622, 623, 627, 154) và phương pháp kiểm kê định kỳ (sử dụng tài khoản 6111, 631). Khóa luận chi tiết hóa các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ (theo chi phí dự toán, theo tỷ lệ hoàn thành tương đương hoặc theo chi phí thực tế phát sinh) và bốn phương pháp tính giá thành: phương pháp giản đơn (trực tiếp), phương pháp tỷ lệ, phương pháp tổng cộng chi phí và phương pháp tính giá thành theo định mức.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp thực hiện bao gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập tài liệu kế toán, chứng từ gốc, hệ thống sổ chi tiết, sổ cái và báo cáo tài chính nội bộ của đơn vị.
- Phương pháp thống kê: Phân loại, tổng hợp số liệu về lao động, sản lượng, doanh thu và chi phí qua các năm.
- Phương pháp biện chứng: Đánh giá mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố chi phí, mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành trong môi trường sản xuất xây lắp.
- Phương pháp định tính: Phân tích quy trình luân chuyển chứng từ, phương pháp phân bổ chi phí và cơ cấu bộ máy tổ chức.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các tài liệu kế toán, bảng cân đối tài chính, bảng phân bổ chi phí, chứng từ ghi sổ của Xí nghiệp 11 trong Quý IV năm 2019 và số liệu hoạt động giai đoạn 2015 – 2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp xây lắp
Chương này làm rõ vị trí của kế toán chi phí và tính giá thành trong quản trị doanh nghiệp xây lắp. Về kế toán tập hợp chi phí theo phương pháp kê khai thường xuyên, văn bản trình bày kết cấu tài khoản và quy trình định khoản của 4 khoản mục chi phí:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Tập hợp trị giá vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện xuất kho (Nợ TK 621/Có TK 152) hoặc mua đưa thẳng vào công trình (Nợ TK 621, Nợ TK 133/Có TK 111, 112, 331). Chi phí đà giáo, cốp pha luân chuyển được hạch toán qua tài khoản chi phí trả trước (Nợ TK 142/Có TK 153) rồi định kỳ phân bổ vào TK 621. Cuối kỳ, vật tư dùng không hết nhập lại kho (Nợ TK 152/Có TK 621) hoặc kết chuyển chi phí thực tế sang tài khoản tính giá thành (Nợ TK 154/Có TK 621).
- Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622): Phản ánh tiền lương, tiền công trả cho công nhân trực tiếp thi công (Nợ TK 622/Có TK 334, 338). Khoản mục này không bao gồm lương của nhân viên quản lý đội và các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn tính trên lương công nhân trực tiếp (được ghi nhận vào chi phí sản xuất chung).
- Chi phí sử dụng máy thi công (TK 623): Phân chia theo hình thức quản lý: nếu tổ chức đội máy thi công có hạch toán nội bộ thì sử dụng các TK 621, 622, 627, 154 để xác định giá thành ca máy rồi bàn giao cho tổ đội xây lắp (Nợ TK 623, Nợ TK 1331/Có TK 336); nếu không lập đội máy riêng, chi phí được tập hợp chi tiết theo tiểu khoản (TK 6231 - nhân công, TK 6232 - vật liệu nhiên liệu, TK 6234 - khấu hao, TK 6237, 6238 - dịch vụ mua ngoài và chi phí khác); nếu thuê ngoài thì ghi nhận Nợ TK 623/Có TK 111, 112, 331.
- Chi phí sản xuất chung (TK 627): Phản ánh chi phí quản lý và phục vụ tại tổ, đội thi công với 6 tài khoản cấp hai (TK 6271 đến TK 6278). Cuối kỳ, chi phí sản xuất chung được phân bổ cho các công trình theo tiêu thức chi phí nhân công trực tiếp hoặc định mức.
Cuối chương, tác giả khái quát các phương pháp tính giá thành; trong đó phương pháp giản đơn áp dụng phổ biến khi đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tính giá thành (công trình, hạng mục công trình), phương pháp tổng cộng chi phí áp dụng cho công trình có nhiều bộ phận thi công theo công thức:
$$Z = \sum_{i=1}^n C_i + D_{ĐK} - D_{CK}$$
Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp 11 - Chi nhánh Tổng Công ty 319
Xí nghiệp 11 (tiền thân là Trung đoàn 11) được thành lập ngày 25/11/1973 tại xã Hùng Vương, huyện An Hải, Hải Phòng, từng thực hiện các nhiệm vụ tái thiết Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà máy gạch Tiêu Giao, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại. Tháng 9/1989, đơn vị chuyển thành Xí nghiệp 11 trực thuộc Công ty xây dựng 319 (nay là Tổng công ty 319 thuộc Bộ Quốc phòng). Đơn vị hoạt động theo loại hình doanh nghiệp Nhà nước, do Giám đốc Bùi Quốc Toản và Kế toán trưởng Lưu Thị Phương Nga điều hành, thực hiện thi công xây lắp công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thủy lợi, xử lý bom mìn vật nổ, sản xuất bê tông và cho thuê máy móc thiết bị.
Bộ máy quản trị tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc kỹ thuật, Phó Giám đốc Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy), 3 ban chuyên môn (Ban Kế hoạch - Kỹ thuật vật tư, Ban Tài chính, Ban Chính trị - Hành chính) và 11 đội thi công trực thuộc (Đội 11 đến Đội 19, Đội 114...). Các công trình tiêu biểu đơn vị đã thi công gồm: Học viện Quốc phòng, Nhà công vụ Bộ Tổng tham mưu, Học viện Hậu cần, Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, Trụ sở Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Nhà khách Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Tình hình tài chính giai đoạn 2015 – 2019 của Xí nghiệp 11 được tổng hợp qua bảng số liệu:
| Chỉ tiêu |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| 1. Tổng chi phí sản xuất kinh doanh (nghìn đồng) |
1.842 |
56 |
03 |
66 |
50 |
| 2. Tổng số lượng lao động bình quân (người) |
472 |
461 |
578 |
615 |
635 |
| 3. Sản lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ (nghìn đồng) |
230.000 |
83 |
99 |
47 |
38 |
| 4. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (nghìn đồng) |
190.299 |
55 |
21 |
41 |
24 |
| 5. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (nghìn đồng) |
102 |
- |
- |
- |
- |
| 6. Lợi nhuận sau thuế (nghìn đồng) |
83 |
- |
- |
- |
- |
| 7. Thuế thu nhập doanh nghiệp (nghìn đồng) |
27.296 |
- |
- |
- |
42 |
Về thực trạng hạch toán, đơn vị áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Kế toán phản ánh chi phí theo từng yếu tố phát sinh tại các tổ đội, định kỳ đánh giá sản phẩm dở dang, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp và xác định giá thành toàn bộ công trình xây lắp trước khi bàn giao chủ đầu tư.
Chương 3: Giải pháp và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Xí nghiệp 11 - Chi nhánh Tổng Công ty 319
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác hạch toán tại đơn vị, tác giả tổng kết các mặt đạt được cùng các điểm hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong quy trình ghi nhận chứng từ, phân bổ chi phí và tính giá thành. Từ mục tiêu định hướng phát triển của Tổng công ty 319, tác giả đề xuất các yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện công tác kế toán và xây dựng hai nhóm khuyến nghị:
- Về phía đơn vị và Tổng công ty 319: Cải tiến công tác lập định mức chi phí kỹ thuật; hoàn thiện quy trình lập và kiểm soát chứng từ gốc ban đầu; điều chỉnh phương pháp phân bổ chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung nhằm phản ánh chính xác giá trị thực tế của từng hạng mục công trình.
- Về phía Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật kế toán, ban hành và cập nhật các định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng phù hợp với biến động thị trường.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận ghi nhận và tổng hợp các kết quả thực tế tại đơn vị:
- Số lượng lao động bình quân tăng trưởng liên tục qua các năm, từ 472 người (năm 2015) lên 461 người (năm 2016), 578 người (năm 2017), 615 người (năm 2018) và đạt 635 người (năm 2019).
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt xấp xỉ giá trị sản lượng thực hiện hàng năm; thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015 đạt 27.296 nghìn đồng.
- Hệ thống tổ chức sản xuất gồm 11 đội thi công trực thuộc được phân cấp rõ ràng, đảm bảo thi công nhiều dự án quân sự và dân dụng có yêu cầu kỹ thuật cao.
Về mặt đóng góp học thuật và so sánh với nghiên cứu trước:
- Luận văn thạc sĩ năm 2016 của Phạm Thị Hà Thanh nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Xây dựng Hoàng Lộc mới chỉ dừng ở phạm vi một doanh nghiệp dân sự độc lập, chưa mở rộng so sánh ngành. Khóa luận của Bùi Thị Thanh Tâm mở rộng phạm vi vào một doanh nghiệp quốc phòng có tính chất lưỡng dụng, chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng công ty 319 và Bộ Quốc phòng.
- Luận văn thạc sĩ năm 2016 của Nguyễn Quỳnh Phương tại Hancorp đề cập kế toán tài chính và kế toán quản trị nhưng giải pháp đưa ra mang tính lý thuyết, khả năng áp dụng thực tế chưa cao. Khóa luận này khắc phục bằng việc phân tích số liệu thực tế phát sinh tại Xí nghiệp 11 trong Quý IV/2019 để đưa ra các kiến nghị gắn liền với cơ chế phân cấp quản trị nội bộ của đơn vị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi tài liệu:
- Dữ liệu kế toán chi tiết chỉ được khảo sát tập trung vào Quý IV năm 2019, chưa bao quát toàn bộ niên độ kế toán cả năm để phân tích tính chu kỳ của hoạt động thi công xây lắp.
- Nghiên cứu tập trung tại một đơn vị phụ thuộc (Xí nghiệp 11 – Chi nhánh Tổng Công ty 319), do đó các giải pháp mang tính đặc thù cao cho mô hình xí nghiệp xây lắp trực thuộc doanh nghiệp quân đội.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng thu thập số liệu trên nhiều niên độ liên tục và đối chiếu mô hình hạch toán chi phí giữa các xí nghiệp thành viên khác trong Tổng công ty 319 nhằm kiểm chứng tính phổ quát của các giải pháp đề xuất.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cụ thể cho:
- Sinh viên chuyên ngành Kế toán doanh nghiệp, Kiểm toán và Kinh tế xây dựng khi nghiên cứu đặc điểm tổ chức kế toán chi phí trong loại hình doanh nghiệp xây lắp.
- Cán bộ kế toán tại các đơn vị thành viên trực thuộc doanh nghiệp xây lắp quy mô lớn, tham khảo quy trình phân loại tài khoản (TK 621, 622, 623, 627) và phương pháp xác định chi phí ca máy khi có hoặc không có tổ đội thi công riêng.
- Nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao gồm: quy trình hạch toán chi phí máy thi công theo các trường hợp tự làm hoặc thuê ngoài; phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung theo chi phí nhân công trực tiếp; và phương pháp tổng cộng chi phí để xác định giá thành công trình.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận nghiên cứu tại đơn vị nào và phạm vi thời gian khảo sát là khi nào?
Khóa luận nghiên cứu tại Xí nghiệp 11 – Chi nhánh Tổng Công ty 319 Bộ Quốc phòng (trụ sở tại số 145/154 đường Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội). Dữ liệu hạch toán chi tiết được thu thập trong Quý IV năm 2019, kết hợp số liệu tài chính giai đoạn 2015 – 2019.
Cơ cấu bộ máy tổ chức của Xí nghiệp 11 được thiết lập như thế nào?
Xí nghiệp tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc kỹ thuật, Phó Giám đốc Chính trị kiêm Bí thư Đảng ủy), 3 ban chuyên môn (Ban Kế hoạch - Kỹ thuật vật tư, Ban Tài chính, Ban Chính trị - Hành chính) và 11 đội thi công trực thuộc (Đội 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 114...).
Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622) tại doanh nghiệp xây lắp theo tác giả không bao gồm những khoản nào?
Theo trình bày ở Chương 1, chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp của nhân viên quản lý đội, nhân viên văn phòng quản lý doanh nghiệp; đồng thời không bao gồm các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn tính trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất (các khoản trích này được hạch toán vào chi phí sản xuất chung TK 627).
Trường hợp doanh nghiệp tổ chức tổ đội máy thi công riêng và có phân cấp hạch toán nội bộ thì kế toán chi phí máy thực hiện ra sao?
Tại tổ đội máy thi công, kế toán sử dụng các TK 621, 622, 627 và TK 154 để tập hợp chi phí và tính giá thành ca máy. Khi cung cấp dịch vụ máy cho các tổ đội xây lắp, kế toán ghi nhận chuyển giao qua tài khoản phải thu nội bộ (Nợ TK 136/Có TK 154 nếu không tính doanh thu) hoặc giá vốn (Nợ TK 632/Có TK 154). Tại tổ đội xây lắp nhận dịch vụ máy, kế toán ghi nhận vào chi phí máy thi công (Nợ TK 623/Có TK 336).
Quy mô lao động bình quân của Xí nghiệp 11 thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2015 – 2019?
Theo bảng tổng hợp số liệu tài chính của khóa luận, tổng số lượng lao động bình quân của đơn vị có xu hướng tăng: 472 người (năm 2015), 461 người (năm 2016), 578 người (năm 2017), 615 người (năm 2018) và 635 người (năm 2019).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bùi Thị Thanh Tâm đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong ngành xây dựng cơ bản, đồng thời phản ánh bức tranh thực tế tại Xí nghiệp 11 – Chi nhánh Tổng Công ty 319 Bộ Quốc phòng trong Quý IV năm 2019. Bằng việc phân tích cơ cấu tổ chức gồm 11 đội thi công và trình tự hạch toán các khoản mục chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công và sản xuất chung, công trình đã chỉ ra những ưu điểm cũng như các mặt hạn chế trong công tác kế toán tại đơn vị. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng hướng đến mục tiêu hoàn thiện quy trình kế toán chi phí, hỗ trợ công tác quản trị giá thành sản phẩm xây lắp phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp.