CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP: 1. Chi phí sản xuất và phân loại các chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp: 1. Khái niệm chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là tổng số các hao phí lao động sống và lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm chi phí sản xuất xây lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp.các chi phí sản xuất xây lắp cấu thành giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ các chi phí phát sinh trong lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, nó là bộ phận cơ bản để hình thành giá thành sản phẩm xây lắp.Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp: Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí… Cụ thể, có thể phân loại chi phí theo những cách cơ bản sau đây: Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí SV: Trương Thị Phương Thảo Lớp: CQ48/21.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 4 Khoa kế toán doanh nghiệp -Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính (xi măng, nhựa đường, đá, cát, sắt thép…), chi phí nguyên vật liệu phụ (tre nứa, gạch vụn…),chi phí phụ tùng thay thế (đinh tán, ốc vít, bulông…), than, củi, dầu diesel, xăng mogas. sử dụng vào sản xuất kinh doanh (trừ số không dùng hết nhập lại kho hoặc tiêu thụ ngay và phế liệu thu hồi). - Yếu tố chi phí nhân công: bao gồm tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ,TCTN và các khoản phụ cấp theo lương: phản ánh tổng số tiền lương, phần BHXH, BHYT, KPCĐ, TCTN trích theo tỷ lệ quy định tính trên tổng tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức.
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất ngoài các yếu tố chi phí nói trên. Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí - Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản phải trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như: BHXH, BHYT, KPCĐ… SV: Trương Thị Phương Thảo Lớp: CQ48/21.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 5 Khoa kế toán doanh nghiệp - Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp (vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy). - Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, các đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sau: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất. Phân loại chi phí theomối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động - Biến phí: là những chi phí thay đổi tỷ lệ với mức hoạt động của đơn vị.
Biến phí thường gồm các loại chi phí như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp… - Định phí: là những chi phí không đổi trong phạm vi phù hợp khi mức độ hoạt động kinh doanh thay đổi. - Chi phí hỗn hợp: là những chi phí gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường biểu hiện đặc điểm của định phí, ở quá mức độ hoạt động căn bản thì nó lại biểu hiện đặc điểm của biến phí. Giá thành và các loại giá thành sản phẩm xây lắp 1.
Khái niệm và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm xây lắp Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Trong hoạt động kinh doanh xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí tính bằng tiền để hoàn thành khối lượng xây lắp theo quy định. Giá SV: Trương Thị Phương Thảo Lớp: CQ48/21.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa kế toán doanh nghiệp thành sản phẩm mang tính chất cá biệt, mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành có một giá thành riêng, thông thường đây là giá mà doanh nghiệp đã ký kết với chủ đầu tư (giá giao nhận thầu)- tức là giá thành sản phẩm xây lắp đã được định trước. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp Trong doanh nghiệp xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau đây: Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình.
Giá thành dự toán Giá trị dự toán công Thu nhập của công trình, = trình, hạng mục công - chịu thuế hạng mục công trình trình tính trước Hiện nay, việc xây dựng dự toán các công trình xây dựng cơ bản được thực hiện theo đơn giá xây dựng cơ bản của Nhà nước trong đó quy định rõ phương pháp lập dự toán theo từng khoản mục chi phí. STT Khoản mục chi phí Ký hiệu Diễn giải 1 Chi phí vật liệu A 2 Chi phí nhân công B 3 Chi phí sử dụng máy thi công C Cộng chi phí trực tiếp CPTT CPTT = A + B + C 4 Chi phí sản xuất chung D Giá thành dự toán G G=A+B+C+D 5 Lãi định mức H Giá trị dự toán Gtt Gtt = G + H SV: Trương Thị Phương Thảo Lớp: CQ48/21.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 7 Khoa kế toán doanh nghiệp Giá thành kế hoạch: là giá thành được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp thi công. Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán + Mức hạ giá thành kế hoạch Giá thành thực tế: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành khối lượng xây lắp. Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh: là giá thành công trình, hạng mục công trình đã thi công đến giai đoạn cuối cùng, phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật đã ký kết với chủ đầu tư, được kiểm nhận, bàn giao, thanh toán để đưa vào sử dụng.
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước: là giá thành của khối lượng xây lắp thoả mãn các điều kiện: - Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng thiết kế quy định. - Phải đo đếm được và được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán. - Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra nhưng khác nhau về mặt lượng.
Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng một thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa; còn khi nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm xây lắp. Giá thành Chi phí sản Chi phí sản Chi phí sản sản xuất = xuất dở dang + xuất phát sinh - xuất dở dang SV: Trương Thị Phương Thảo Lớp: CQ48/21.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa kế toán doanh nghiệp sản phẩm đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ 1. NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động kinh doanh.
Do đó việc kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, từng bộ phận, từng đối tượng góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác giá thành dự toán còn là cơ sở để doanh nghiệp bỏ thầu với chủ đầu tư; giá thành thực tế là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ để xác định kết quả kinh doanh. Để đạt được các yêu cầu quản lý nói trên, phải phát huy tối đa chức năng của công tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý chi phí và giá thành nói riêng trong đó công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm chi phí, đặc điểm tổ chức sản xuất và sản phẩm của đơn vị để xác định đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp. - Phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộ các chi phí sản xuất thực tế phát sinh cho từng đối tượng hạch toán chi phí.