Chương 1: Cơ sở lí luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Chương 2: Thực trạng toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Truyền Thông TIM Việt Nam Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Truyền Thông TIM Việt Nam Mặc dù có nhiều cố gắng song thời gian có hạn nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự bổ sung của các thầy (cô) để luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!! SV: Đặng Thị Kim Hoàn Lớp: DCKT9.10 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. S Nguyễn Thị Dung PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1.
Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Khái niệm và đặc điểm của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Bán hàng * Khái niệm Trong doanh nghiệp, bán hàng là một hoạt động vô cùng quan trọng, là nghiệp vụ cơ bản tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy khái niệm thế nào là bán hàng có ý nghĩa to lớn.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bán hàng, nhìn chung một số khái niệm bán hàng được nhiều người tiếp cận đó là: Khái niệm bán hàng theo giáo trình Kế toán Thương mại dịch vụ - TS. Nguyễn Tuấn Duy chủ biên (2014): “Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua.” Khái niệm bán hàng theo Giáo trình Phân tích kinh tế doanh nghiệp - PGS.TS Nguyễn Quang Hùng chủ biên (2017): “Bán hàng là một quá trình trao đổi hàng hóa – tiền tệ trong đó người bán trao hàng cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho người bán. Bán hàng là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nó kết thúc một chu kỳ hoạt động kinh doanh và mở ra một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới.” Khái niệm bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 14 Doanh thu và thu nhập khác ban hàng và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC: “Bán hàng là bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hóa mua vào.” Nhìn chung, bán hàng là quá trình kinh tế bao gồm từ việc tổ chức đến việc trao đổi mua bán hàng hóa thông qua các khâu nghiệp vụ kinh tế kỹ thuật, các hành vi mua bán cụ thể nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại, thể SV: Đặng Thị Kim Hoàn Lớp: DCKT9.10 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.
S Nguyễn Thị Dung hiện khả năng và trình độ của doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu của mình cũng như đáp ứng cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội. * Các phương thức bán hàn - Phương thức bán hàng trực tiếp: Là phương thức giao hàng trực tiếp cho người mua tại kho, tại quầy, hay tại phân xưởng sản xuất (không qua kho) của doanh nghiệp. Sau khi người mua đã nhận đủ hàng và ký vào hóa đơn bán hàng thì số hàng đã bàn giao được chính thức coi là tiêu thụ. - Bán buôn: Là phương thức bán hàng qua lô hoặc bán với số lượng lớn.
Giá bán biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Bán buôn gồm 2 phương thức: bán buôn qua kho và bán buôn xuất bán thẳng. Bán buôn hàng hóa qua kho: là phương thức mà trong đó hàng bán được xuất ra từ kho của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: là phương thức bán buôn mà sau khi mua hàng doanh nghiệp không nhập kho mà xuất bán thẳng cho bên mua.
Bán lẻ: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Đó là hành vi trao đổi diễn ra hàng ngày thường xuyên của người tiêu dùng. Thời điểm xác định tiêu thụ là khi doanh nghiệp mất đi quyền sở hữu hàng hóa và có quyền sở hữu tiền tệ. Phương thức bán hàng qua đại lý: Là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho bên nhận đại lý (bên đại lý) để bán, bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
Số hàng hóa gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, số hàng hóa này được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên đại lý thanh toán hoặc thông báo số hàng đã bán được. Phương thức trả góp, trả chậm: Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền trả chậm phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định.
Về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua thì hàng được coi là tiêu thụ (về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua trả hết tiền). SV: Đặng Thị Kim Hoàn Lớp: DCKT9.10 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. S Nguyễn Thị Dung Phương thức hàng đổi hàng: Doanh nghiệp dùng hàng hóa của mình để đổi lấy những mặt hàng thiết yếu mà công ty có nhu cầu. Giá trao đổi là giá hiện hành của vật tư hàng hóa được cung ứng trên thị trường.
Phương thức tiêu thụ nội bộ: Tiêu thụ nội bộ là việc mua, bán sản phẩm, hàng hóa dịch vụ giữa các đơn vị chính với đơn vị trực thuộc hoặc giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một tổng công ty, một tập đoàn, một xí nghiệp. * Phương thức thanh toán. Phương thức thanh toán là cách thức mà các doanh nghiệp thương mại thanh toán sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh toán thì bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào sự tín nhiệm, thảo thuận giữa hai bên mà lựa chọn phương thức cho phù hợp. Hiện nay các doanh nghiệp thương mại thường áp dụng theo các phương thức sau: Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sỡ hữu về tiền tệ được chuyển giao từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu về hàng hóa được chuyển giao từ người bán sang người mua.
Thanh toán tiền mặt có thể bằng tiền mặt, tiền gửi, séc. Phương thức thanh toán trả chậm: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu tiền tệ được chuyển giao từ người mua sang người bán sau một khoảng thời gian sau khi quyền sở hữu về hàng hóa được chuyển giao từ người bán sang người mua. Do đó, hình thành khoản công nợ đối với khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch toán chi tiết theo từng khách hàng và từng lần thanh toán.
Nhằm để thu hút khách hàng thanh toán tiền sớm, doanh nghiệp có thể cho khách hàng hưởng chiết khấu thanh toán.2 Kế toán xác định kết quả kinh doanh − Xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và thu nhập kinh doanh thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc XĐKQKD thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tuỳ thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý từng doanh nghiệp. SV: Đặng Thị Kim Hoàn Lớp: DCKT9.10 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.
S Nguyễn Thị Dung − Thông tin Kế toán xác định kết quả kinh doanh cung cấp giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và kịp thời đưa ra các quyết định kinh doanh có lợi nhất cho mình. Nhiệm vụ kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. − Quản lý quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là một yêu cầu thực tế, nó xuất phát từ mục tiêu của DN. Nếu DN quản lý tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch tiêu thụ và đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN đó.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý về thành phẩm, hàng hóa, bán hàng, XĐKQKD và phân phối kết quả của các hoạt động. Kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây: + Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị. + Phản ánh với giám đốc kịp thời, chi tiết khối lượng hàng hoá dịch vụ mua vào, bán ra, tồn kho cả về số lượng, chất lượng và giá trị. Tính toán đúng đắn giá vốn của hàng hoá và dịch vụ đã cung cấp, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác nhằm xác định kết quả kinh doanh.
Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động. + Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập BCTC và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh + Tham mưu cho lãnh đạo về các giải pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng 1. Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Kế toán giá vốn hàng bán Tính trị giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán là trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ xuất bán trong kỳ, đã thực hiện tiêu thụ trong kỳ, ý nghĩa của GVHB chỉ được sử dụng khi xuất kho hàng bán và tiêu thụ. Khi hàng hóa đã tiêu thụ được phép xác định doanh thu đồng thời giá trị hàng hóa xuất kho cũng được phản ánh theo GVHB để xác định kết quả.
SV: Đặng Thị Kim Hoàn Lớp: DCKT9.10 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. S Nguyễn Thị Dung Việc tính giá trị hàng tồn kho xuất nói chung, nguyên vật liệu xuất nói riêng được thực hiện theo 3 bước sau: Bước 1: Xác định số lượng từng loại xuất. Bước 2: Xác định giá đơn vị của từng loại xuất. Bước 3: Xác định tổng giá trị xuất.