Chương 1:Cơ sở lý luận về hệ thống tiền lƣơng trong doanh nghiệp Chương 2:Đánh giá thực trạng hệ thống tiền lƣơng tại Công ty Viettel Campuchia Chương 3:Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện hệ thống tiền lƣơng tại Công ty Viettel Campuchia 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNGTIỀN LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất, vai trò, nguyên tắc tiền lƣơng trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tiền lương, bản chất tiền lương Tiền lƣơng là một phạm trù kinh tế xã hội, xuất hiện đồng thời với các quan hệ thuê mƣớn và sử dụng lao động.
Đây là loại quan hệ mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng: Ngƣời có sức lao động, lại không thể tự tổ chức quá trình lao động cho mình, để biến quyền sở hữu trực tiếp đó thành vật phẩm tiêu dùng, để duy trì cuộc sống. Ở phía khác, ngƣời có nhu cầu sử dụng sức lao động, nhƣng không đƣợc quyền sở hữu ngƣời lao động(do người lao động được luật pháp bảo hộ quyền tự do về thân thể, họ chỉ bán sức lao động mà thôi). Do vậy, đã hình thành quan hệ mua, bán quyền sử dụng sức lao động, theo những mục tiêu lợi ích mà mỗi bên tự đặt ra. Ngƣời sở hữu sức lao động, bán quyền sử dụng sức lao động của mình cho ngƣời cần sức lao động.
Ngƣời có nhu cầu sử dụng sức lao động phải trả tiền cho việc sử dụng, đƣợc hiểu là tiền lƣơng, tiền công. Tiền lƣơng, tiền công là phần nhận về của ngƣời lao động, sau khi đã sẵn sàng nhƣợng quyền sử dụng sức lao động cho ngƣời sử dụng lao động. Ngƣời sử dụng lao động, động cơ thuê sức lao động, lại không phải vì muốn giúp ngƣời lao động có việc làm, mà vì mục tiêu lợi nhuận sẽ đạt đƣợc từ sản xuất, kinh doanh mang lại. Không có doanh nghiệp nào lại không muốn đồng vốn của họ sinh lời; không có nhà sản xuất nào, khi thuê (mua) các yếu tố đầu vào (trong đó trƣớc hết là sức lao động) lại không muốn các yếu tố sản xuất đó phát sinh một loại công năng đặc biệt, đó là, tạo đƣợc khối lƣợng giá trị thặng dƣ nhiều hơn phần chi phí đã bỏ ra cho việc thuê (mua) các yếu tố đầu vào đó.
Trong các sách giáo khoa kinh điển, đã có nhiều hƣớng tiếp cận về khái niệm tiền lƣơng, tiền công. Đồng thời nhận thức về tiền công, tiền lƣơng lại tuỳ thuộc căn bản vào cơ chế quản lý hiện hành. Chẳng hạn, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tƣ liệu sản xuất và kinh tế nhà nƣớc 10 chiếm ƣu thế tuyệt đối, hoạt động quản lý lao động và tiền lƣơng về cơ bản bị chi phối bởi tính kế hoạch hóa của cơ chế quản lý. Trong mô hình ấy, tiền lƣơng đƣợc quan niệm “là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ, đƣợc Nhà nƣớc phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lƣợng và chất lƣợng lao động mà của mỗi ngƣời đã cống hiến.
Tiền lƣơng phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức, dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động. Khái niệm này hàm nghĩa, tiền công, tiền lƣơng đƣợc thiết kế trƣớc khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đƣợc dự kiến trong kế hoạch của Nhà nƣớc. Vì không coi sức lao động là hàng hoá, nên tiền lƣơng không phải là tiền trả theo đúng giá trị của sức lao động, không phải là ngang giá của sức lao động theo quan hệ cung, cầu. Do vậy, những năm tồn tại mô hình kinh tế mệnh lệnh, đã phổ biến hiện tƣợng phân phối theo chủ nghĩa bình quân.
Thị trƣờng sức lao động, về danh nghĩa, không tồn tại trong nền kinh tế quốc dân. Các quan hệ thuê mƣớn lao động dù manh nha ở một số địa phƣơng, khu vực, nhƣng cũng chƣa thể nói rằng, sức lao động đƣợc coi là hàng hoá. Chính điều đó đã làm mất đi vai trò động lực, vai trò khuyến khích đối với lao động, vốn dĩ là bản chất của yếu tố tiền lƣơng, tiền công. Đồng thời tiền lƣơng, tiền công không còn là nguồn để khơi dậy năng suất lao động của mỗi thành viên cũng nhƣ của toàn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, sức lao động đƣợc coi là hàng hoá, giá cả sức lao động biểu hiện ra dƣới hình thái chuyển hoá là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dƣ biểu hiện ra dƣới hình thái chuyển hoá là lợi nhuận. Điều đó làm thay đổi căn bản những tiền đề của cơ chế quản lý và điều hành nền kinh tế, khái niệm, bản chất, vai trò của tiền lƣơng đã có sự biến đổi sâu sắc. Dƣới giác độ hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, tiền lƣơng là một bộ phận trong tổng phí mà chủ doanh nghiệp phải trả cho ngƣời lao động theo số lƣợng thời gian và chất lƣợng lao động mà ngƣời lao động đã làm. Với nhận thức nhƣ vậy, chi phí về tiền lƣơng cũng bình đẳng nhƣ chi phí cho các yếu tố vật chất khác (nhƣ chi phí thuê nhà xƣởng, mua thiết bị, chi phí trả vốn vay ngân hàng, chi phí mua nguyên vật liệu…).
Doanh nghiệp sẽ hạch toán phần trả lƣơng dƣới hình thức một khoản chi phí, vào giá thành 11 của hàng hoá và dịch vụ, do đó tiền lƣơng chỉ còn vai trò là chi phí của một đầu vào trong các đầu vào mà doanh nghiệp phải thuê, mua. Vì có sự gộp chung về tính chất của các loại chi phí nhƣ vậy nên ngƣời ta sẽ khó chỉ ra đƣợc đâu là bản chất xã hội của tiền lƣơng. Vai trò sản sinh ra các giá trị gia tăng cho chủ doanh nghiệp cũng không có sự nhấn mạnh về lao động hay về bất kỳ một yếu tố đầu vào nào, vì tất cả đều là chi phí. Với quan niệm nhƣ trên, chủ doanh nghiệp đƣợc toàn quyền sử dụng yếu tố sức lao động nhƣ đã từng sử dụng các yếu tố vật chất khác, họ đều muốn những chi phí phải trả là thấp nhất và lợi ích có thể tạo ra lại là lớn nhất.
Lợi nhuận của sản xuất kinh doanh, là một hình thái biểu hiện của giá trị thặng dƣ, tức phần giá trị dôi ra ngoài tiền công, do lao động làm thuê tạo ra. Trong nền sản xuất xã hội có sự đối lập giữa chủ doanh nghiệp và ngƣời làm thuê, lợi nhuận biểu hiện mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế giữa chủ và giới thợ, biểu hiện quan hệ bóc lột và nô dịch lao động. Lợi nhuận và tiền lƣơng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tiền công và lợi nhuận tỷ lệ nghịch với nhau.
Phần của tƣ bản tức là lợi nhuận, tăng lên theo tỷ lệ mà phần của lao động, tức là tiền công sụt xuống và ngƣợc lại. Lợi nhuận tăng lên theo mức độ mà tiền công sụt xuống và giảm xuống theo mức độ tiền công tăng lên. Dƣới giác độ của kinh tế học, tiền lƣơng đƣợc xem xét với phạm vi rộng hơn bao gồm cả tính chất kinh tế và tính chất xã hội. Kinh tế học cũng quan niệm tiền lƣơng là một loại chi phí, nhƣng là chi phí cho con ngƣời - yếu tố động nhất, có vai trò lớn nhất trong tất cả các yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp sử dụng.
Theo đó, tính chất quan trọng của số tiền trả cho yếu tố sức lao động (tức tiền lƣơng), phụ thuộc vào vai trò có tính quyết định của yếu tố sức lao động đó. Con ngƣời không chỉ xác định mục tiêu của sản xuất kinh doanh, thiết kế các quy trình sản xuất, mà còn trực tiếp sử dụng các yếu tố vật chất khác và điều hành toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy những chi phí để sử dụng nhân lực cần đƣợc phân tích và xem xét toàn diện, tùy thuộc vào vai trò của yếu tố sức trong quá trình sản xuất kinh doanh đó. Nếu tiếp cận dƣới giác độ luật pháp, tiền lƣơng xác định quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ lao động.
Bộ luật lao động năm 2012 của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, chƣơng VI Điều 90 ghi rõ: “Tiền lƣơng là khoản tiền mà 12 ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do chính phủ quy định. Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lƣợng công việc…” Rõ ràng tiền lƣơng là một trong những nội dung quan trọng của hợp đồng lao động giữa những ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Dƣới góc nhìn của Tổ chức ILO thì tiền lƣơng là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính nào, có thể biểu hiện bằng tiền và đƣợc ấn định thông qua thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động.
Tiền lƣơng thƣờng đƣợc coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo thời gian, cùng với sự phát triển và biến động liên tục của nền kinh tế xã hội, của khoa học quản trị nhân lực, quan hệ giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động có sự thay đổi, từ quan hệ thƣơng mại mua bán nghiêng về hình thức hợp tác song phƣơng, đôi bên cùng có lợi. Ngƣời lao động ngày càng có quyền và sức ép với doanh nghiệp trong đàm phán tiền lƣơng. Hơn nữa, số lƣợng ngƣời lao động có chất lƣợng và năng lực tham gia vào sở hữu doanh nghiệp ngày càng gia tăng.
Thực tiễn cho thấy, tiền lƣơng cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó sự khan hiếm lao động quản lý và lao động có trình độ cao trong một số lĩnh vực (nhƣ Công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính…) là yếu tố tạo ra sự khác biệt lớn về tiền lƣơng giữa các lĩnh vực này với các lĩnh vực khác. Nhƣ vậy, để có đƣợc nhận thức toàn diện, khái niệm tiền lƣơng, tiền công của ngƣời lao động trong khu vực sản xuất kinh doanh cần bao quát đƣợc cả ý nghĩa kinh tế, những ràng buộc về luật pháp, xâu chuỗi các quan hệ xã hội, thu gộp cả bản chất là chi phí và đồng thời là thu nhập của quan hệ thuê và sử dụng lao động.