phần mở đầu, kết luận, danh mục về chữ viết tắt, sơ đồ, bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống KSNB áp dụng trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống KSNB tại Công ty TNHH Xử lý nền đất yếu Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại Công ty TNHH Xử lý nền đất yếu Bình Định.
9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ Hoạt động trong các đơn vị là một chuỗi các quy trình nghiệp vụ đan xen nhau một cách c hệ thống và ở bất kỳ khâu nào của các quy trình nghiệp vụ cũng cần chức năng kiểm soát. Hoạt động kiểm soát luôn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình quản lý và điều hành kinh doanh. Thông qua việc kiểm soát hữu hiệu, nhà quản lý c thể đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo đạt đƣợc các mục tiêu đề ra với hiệu suất cao nhất.
Công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát của các nhà quản lý là hệ thống SNB (Internal ControlSystem). * Trước năm 1992 (giai đoạn tiền COSO) - Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa ỳ - lần đầu đƣa ra khái niệm về KSNB và chính thức công nhận vai trò của SNB trong doanh nghiệp. hái niệm SNB lúc này đƣợc sử dụng trong các tài liệu kiểm toán và đƣợc hiểu nhƣ là một biện pháp giúp cho việc: Bảo vệ tiền không bị các nhân viên gian lận; Bảo vệ tài sản không bị thất thoát; Ghi chép kế toán chính xác; Tuân thủ chính sách của nhà quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. - Vào thập niên những năm 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa ỳ đã phát hành khá nhiều các báo cáo, hƣớng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu SNB trong các cuộc kiểm toán.
- Giữa thập niên những năm 1970, SNB đƣợc quan tâm đặc biệt trong các l nh vực thiết kế hệ thống kế toán và kiểm toán, chủ yếu hƣớng vào cách 10 thức cải tiến hệ thống SNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. - Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate với các khoản thanh toán bất hợp pháp cho chính phủ nƣớc ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua Điều Luật Hành vi hối lộ ở nƣớc ngoài. Trong đ , SNB rất đƣợc quan tâm đề cập đến để kiểm soát mọi hoạt động và khái niệm SNB lần đầu tiên đƣợc xuất hiện trong văn bản pháp luật. - Năm 1991, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ đƣa ra các hƣớng dẫn kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin.
Những quy định này đều hƣớng chung đến mục tiêu phát triển vai trò của SNB trong tổ chức, nhƣng theo nhiều phƣơng diện và c tồn tại nhiều điểm không đồng nhất, vì thế dẫn đến yêu cầu phải hình thành một hệ thống lý luận c tính chuẩn mực về KSNB. * Giai đoạn Báo cáo COSO năm 1992 Ủy ban COSO là một Ủy ban gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho Ủy ban Treadway nhƣ: Hiệp hội kế toán viên công chức Hoa ỳ, Hội ế toán Hoa ỳ … COSO đƣa ra khuôn mẫu lý thuyết chuẩn cho SNB. Đây là hệ thống lý luận đầy đủ nhất về SNB cho đến thời điểm hiện nay. Báo cáo COSO là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về SNB một cách đầy đủ và c hệ thống.
Đặc điểm là tầm nhìn rộng, mang tính quản trị, đề cập các vấn đề liên quan BCTC, l nh vực hoạt động và tính tuân thủ. Báo cáo COSO tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về SNB. * Sau năm 1992 (giai đoạn hậu COSO) Nền tảng lý luận chuẩn cơ bản về KSNB mà báo cáo COSO đã tạo dựng là cơ sở lý luận hoàn thiện. Nhờ đ mà đã c hàng loạt nghiên cứu mở rộng và phát triển trên nhiều l nh vực nhƣ: - COBIT-1996 do ISACA ban hành.
COBIT là hệ thống KSNB phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin, nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trƣờng CIS. Cụ thể bao gồm kiểm soát CIS trong các l nh vực: Hoạch định, 11 Tổ chức mua và triển khai, Phân phối và hỗ trợ, Giám sát. - SAS 78 (1995) và SAS 94 (2001): Các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng báo cáo COSO là nền tảng đánh giá hệ thống KSNB trong kiểm toán độc lập về kiểm toán BCTC và ảnh hƣởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong BCTC. - Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về vận dụng KSNB của COSO vào hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Báo cáo này chỉ đi sâu vào ngành Ngân hàng cụ thể chứ không mở rộng phạm vi ra các ngành khác. - ERM (2001) Hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp phục vụ cho công tác quản trị. ERM đƣợc định ngh a gồm 8 nhân tố cấu thành: Môi trƣờng nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. - Tiếp đ , khái niệm SNB theo INTOSAI năm 2013 đã c thay đổi theo hƣớng quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp giảm thiểu gian lận, từ đ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cƣờng năng lực giám sát của tổ chức.
Dù c những thay đổi theo thời gian, song các quan điểm đều c chung nhận định, KSNB là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt đƣợc các mục tiêu về: Tính hữu hiệu, hiệu quả trong hoạt động của đơn vị, tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan, thiết lập, báo cáo các thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy, đảm bảo tính kịp thời, bảo vệ nguồn lực không thất thoát, hƣ hỏng, sử dụng sai. Dù có sự khác biệt về tổ chức hệ thống KSNB giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, nhƣng bất kỳ hệ thống SNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản nhƣ: Môi trƣờng kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát (COSO, 2013). Theo COSO 2013, khuôn khổ chung của KSNB là nội dung quan trọng nhất, đã đƣa ra định ngh a về KSNB và tiêu chí về các bộ phận hợp thành một 12 hệ thống KSNB. COSO 2013 không chỉ phục vụ cho công tác tài chính, kế toán mà còn mở rộng đối với phạm vi toàn doanh nghiệp (điều chỉnh 7 quan điểm cơ bản và đƣa ra 17 nguyên tắc mở rộng theo mô hình kết cấu bởi 5 thành phần cấu thành KSNB dựa theo COSO 1992).
So với COSO 1992, COSO năm 2013 đã c những thay đổi cơ bản: + Ngăn ngừa, phát hiện và giảm thiểu các gian lận; + Ứng dụng sự phát triển của khoa học công nghệ; + Đáp ứng các nhu cầu, quy định, chuẩn mực; + Sự thay đổi trong mô hình kinh doanh phù hợp với sự biến động của thế giới; + Hƣớng đến sự toàn cầu hóa thị trƣờng và hoạt động kinh doanh mở rộng; + Tăng cƣờng các chiến lƣợc cạnh tranh và trách nhiệm giải trình trƣớc xã hội; + Tiếp cận theo hƣớng mong đợi vào việc quản trị kinh doanh ở tầm v mô. KHÁI NIỆM VỀ KIỂM SOÁT NÔI BỘ VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Trong doanh nghiệp kiểm soát nội bộ luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy trình quản trị. Các nhà quản lý thƣờng chú tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lý, khái niệm kiểm soát nội bộ từ lâu đã đƣợc hình thành và phát triển dần để trở thành một hệ thống lí luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định ngh a khác nhau, dƣới đây trình bày một số quan điểm cơ bản về kiểm soát nội bộ. Theo luật kế toán Việt Nam năm 2015, điều 39 nêu rõ: “ SNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo 13 đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra” [11, Điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015]. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, định ngh a cụm từ KSNB nhƣ sau: “ SNB là quy trình do ban quản trị, ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định c liên quan” [3, VSA 315, 2012, trang 1].
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm soát nội bộ là các chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục đƣợc thiết lập nhằm đạt đƣợc các mục tiêu: bảo vệ tài sản đơn vị, đảm bảo độ tin cậy và trung thực của các thông tin báo cáo, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và những qui định, bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động. Theo quan điểm cuả Ủy Ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (COSO – Committed Of Sponsoring Organization): “ iểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, n đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây: (1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động (2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính (3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Trong định ngh a trên, c bốn khái niệm quan trọng cần lƣu ý, đ là quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. - Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thông qua quá trình từ kế hoạch, thực hiện và giám sát.