CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trên Thế giới và Việt Nam từ đó đưa ra những nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.1 Đề tài nghiên cứu nước ngoài Sterck et al. (2005), “Kiểm soát nội bộ trong khu vực công” là một trong những nghiên cứu quốc tế đầu tiên về thực hành kiểm soát nội bộ trong khu vực công, và cung cấp những phát hiện thú vị về các khuôn khổ kiểm soát nội bộ được sử dụng trong một số quốc gia được coi là người tiên phong vào thời điểm đó. Ví dụ, Úc đã thiết lập một mô hình điều khiển trung tâm một cách rõ ràng đề cập đến năm thành tố của khuôn khổ kiểm soát nội bộ Coso đầu tiên. Ở Thụy Điển, hầu hết các tổ chức công cộng sử dụng kết hợp các phương pháp khuyến cáo của chính phủ (dựa trên tiêu tiêu chuẩn Coso) cùng với các hệ thống và thủ tục cụ thể đã được phát triển có tính đến các yếu tố nội bộ như mô hình tổ chức và loại hình hoạt động thực hiện.
Trong chính phủ liên bang của Hoa Kỳ, các tiêu chuẩn về kiểm soát nội bộ, cũng dựa trên tiêu chuẩn Coso, cung cấp một khuôn khổ kiểm soát nội bộ để xác định và giải quyết các thách thức quản lý hiệu suất lớn và rủi ro nội bộ cao (Sterck et al, 2005. Rahahleh (2011), phát hiện ra rằng kiểm soát nội bộ trong các tổ chức công cộng Jordan bị nhiều vấn đề. Chúng bao gồm các ví dụ: thiếu lao động có trình độ, không có các thành phần chính của hệ thống kiểm soát nội bộ, không có khả năng sử dụng các công cụ kỹ thuật cần thiết trong kiểm soát nội bộ và thiếu nhân viên chuyên nghiệp chuyên ngành. Mongkolsamai, Varipin, Ussahawanitchakit, Phapruke (2012), nghiên cứu trên 120 công ty Thái Lan được niêm yết.
Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, và thông tin và truyền thông có tác động tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động của tổ chức.Hơn nữa, tầm nhìn điều hành minh bạch, kiến thức của nhân viên, đa dạng giao dịch kinh doanh, và người tham gia cũng cần có một tác động tích cực vào chiến lược kiểm soát nội bộ. c 7 Shakirat Adepeju Babatunde & Kabiru Isa Dandago (2014), “Internal Control System Deficiency and Capital Project Mis management in the Nigerian Public Sector”. Nghiên cứu này cho thấy rằng thiếu hụt hệ thống kiểm sort nội bộ có tác động tiêu cực đáng kể về quản lý dự án vốn trong khu vực công ở Nigeria. Nghiên cứu đề xuất việc tuân thủ nghiêm ngặt với hệ thống kiểm soát nội bộ trong các lợi ích tốt nhất của công dân.2 Đề tài nghiên cứu trong nước Trần Thị Tài (2010), “Tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách tại trường Đại học Quảng Nam”.
Luận văn đã nêu được thực tế về công tác kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách tại Trường Đại học Quảng Nam những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại của công tác kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách tại đơn vị. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách tại đơn vị nhằm giảm thiểu những sai sót, gian lận. Bùi Đỗ Như Hạnh (2011), “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu chi tại nhà khách số 8 Bạch Đằng Văn phòng Trung ương Đảng”. Luận văn đã nêu khái quát một số vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ các khoản thu chi tại đơn vị sự nghiệp có thu, thực trạng kiểm soát nội bộ các khoản thu chi tại Nhà khách số 8 Bạch Đằng từ đó đề ra những giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu chi tại Nhà khách số 8 Bạch Đàng Văn phòng Trung ương Đảng.
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), “Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại chi cục thuế Quận 9”. Luận văn đã xây dựng được thang đo, đã kiểm định sự phù hợp cũng như độ tin cậy của chúng. Xác định được nhân tố nào của hệ thống KSNB có ảnh hưởng mạnh nhất tới hoạt động thu thuế tại Chi Cục Thuế Quận 9.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu Sau khi tìm hiểu những công trình nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước liên quan tương đối đến đề tài của luận văn, tác giả có một số nhận xét cơ bản như sau: c 8 - Hiện nay, các đề tài nghiên cứu kể cả trong nước và nước ngoài có liên quan đều phần lớn chỉ tập trung phân tích các nhân tố nào của hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp, đề tài nghiên cứu liên quan đến khu vực công không nhiều lại chưa đầy đủ. - Các nghiên cứu được công bố trước đây chủ yếu là dùng phương pháp định tính, nghiên cứu định lượng ít tác giả nghiên cứu và đặc thù tại bệnh viện Chợ Rẫy.
- Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triển những công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đã nghiên cứu theo hướng định lượng đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại bệnh viện Chợ Rẫy”. Từ đó, đưa ra các giải pháp hữu ích nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp y tế công, cụ thể bệnh viện Chợ Rẫy. c 9 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Thông qua, bức tranh tổng thể về các nghiên cứu khác nhau trong nước cũng như ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến những nội dung của luận văn mà tác giả thực hiện. Từ đó giúp tác giả nhận thấy khoảng trống cần nghiên cứu và làm nền tảng thực hiện các bước tiếp theo của luận văn.
Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần lần lượt trong nước và ngoài nước trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu đã công bố có liên quan đến nội dung của luận văn. Qua những nội dung đã trình bày trong chương này cho thấy kiểm soát nội bộ trong bệnh viện Chợ Rẫy là vấn đề mới và cần thiết cho hướng nghiên cứu của luận văn. Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này. c 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ 2.1 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Có rất nhiều định nghĩa khác nhau khi nhắc đến hệ thống KSNB.
Tùy theo góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu KSNB cũng như yêu cầu quản trị khác nhau mà dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau: Trên thế giới: - Theo quan điểm của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA) nhận định về KSNB: KSNB “… là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách” [Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA)]. - Theo quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) nhận định về KSNB: “KSNB là một hệ thống gồm các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động” [Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)]. - Theo Ủy Ban Tổ Chức Kiểm Tra (COSO) đưa ra 1992 nhận định về KSNB : “KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây : • Báo cáo tài chính đáng tin cậy. • Các luật lệ và quy định được tuân thủ.
• Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” - Theo hướng dẫn chuẩn mực kiểm soát nội bộ của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) công bố năm 1992: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”. - Theo hướng dẫn chuẩn mực kiểm soát nội bộ của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) công bố năm 2004: “Kiểm soát nội bộ là một c 11 quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức”. - Theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao INTOSAI được cập nhật lại vào năm 2013, trình bày về định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là những mục tiêu cần đạt được: - Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp.
- Thực hiện đúng trách nhiệm. - Tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định. - Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”. Tại Việt Nam: - Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS 400) nhận định về KSNB: “KSNB là các quy định và thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và quản lý có hiệu quả tài sản của đơn vị”.
Dù hướng dẫn của INTOSAI năm 2013 có thay đổi về thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp giảm thiểu gian lận. Nhưng nhìn chung, trong định nghĩa trên của COSO và INTOSAI, có 4 nội dung cơ bản là: • Kiểm soát nội bộ là một quá trình. • Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người. • Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý.
• Các mục tiêu của KSNB.