phần mở đầu và kết luận, luâṇ văn đƣơc̣ bốcuc̣ thành bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về hệ thống đánh giá công việc của CBNV kinh doanh tại ngân hàng. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cƣ́u. Chƣơng 3: Thực trạng hệ thống đánh giá công việc của CBNV kinh doanh tại khối KHDN, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam. Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá công việc của CBNV kinh doanh tại khối KHDN, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ NHÂN VIÊN KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ trƣớc đến nay đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống đánh giá năng lực trong doanh nghiệp và ngân hàng nhƣ: Nguyễn Thị Minh Thảo (2012), Đánh giá thành tích nhân viên tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ tài chính ngân hàng, Trƣờng Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã hệ thống hóa đƣợc các vẫn đề lý luận liên quan đến việc đánh giá thành tích nhân viên ngân hàng, phân tích thực trạng về việc đánh giá nhân viên ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Đà Nẵng trong thời gian vừa qua. Đồng thời, tác giả đã đƣa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống đánh giá thành tích nhân viên tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Đà Nẵng.
Tuy nhiên, luận văn mới chỉ nghiên cứu hệ thống đánh giá thành tích chung của nhân viên tại ngân hàng, chƣa trọng tâm vào hệ thống đánh giá công việc của cán bộ nhân viên kinh doanh tại ngân hàng. Phạm Thị Minh Hạnh (2007), Nghiên cứu hệ thống đánh giá năng lực chuyên môn của giáo viên trung học phổ thông ở Cộng hòa Pháp và hƣớng vận dụng vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ giáo dục. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống đánh giá năng lực chuyên môn ở Cộng hòa Pháp, luận văn đã đề xuất những hƣớng vận dụng kinh nghiệm đánh giá năng lực chuyên môn giáo viên trung học phổ thông ở Cộng hòa Pháp vào Việt Nam, góp phần đổi mới và hoàn thiện công tác đánh giá chuyên môn của đội ngũ giáo viên, thúc đẩy sự nghiệp cải cách giáo dục của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu hệ thống đánh giá năng lực trong giáo dục, không phải trong lĩnh vực ngân hàng.
Lê Thị Mỹ Hà (2012), Xây dựng quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở, Luận văn tiến sĩ quản lý giáo dục, Trƣờng Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Luận văn đã làm rõ đƣợc vai trò của việc đánh giá và ngƣời đánh giá (nhƣ trình độ của ngƣời đánh giá,…) đến quá trình dạy học trong 5 nhà trƣờng, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển phƣơng pháp dạy của thầy và phƣơng pháp học của trò. Luận văn đã xây dựng quy trình đánh giá kết quả rõ ràng với sự hỗ trợ của nguồn nhân lực và công nghệ thông tin. Tuy nhiên hệ thống đánh giá này để đánh giá kết quả học tập của học sinh chứ không áp dụng trong ngân hàng.
Huỳnh Đức Lộng (1999), Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nƣớc, Luận văn tiến sĩ kinh tế. Luận văn làm sáng tỏ bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nƣớc, làm rõ thực trạng các hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nƣớc từ đó có giải pháp để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá này. Tuy nhiên, luận văn này chỉ thuần túy phân tích các chỉ tiêu tài chính có liên quan đến các chỉ tiêu sẽ đƣợc áp dụng trong hệ thống KPI của ngân hàng, chƣa đƣa ra giải pháp để lắp ghép các chỉ tiêu này vào hệ thống đánh giá công việc bằng KPI tại ngân hàng. Nguyễn Thị Hồng (2011), Áp dụng KPI vào công tác đánh giá thực hiện tại công ty KATA Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trƣờng Đại học kinh tế Hồ Chí Minh.
Luận văn đã chỉ ra quy trình để xây dựng hệ thống đánh giá công việc bằng KPI để áp dụng trong công ty trong đó gồm các chỉ tiêu định tính và định lƣợng, kèm theo đó là hệ thống lƣơng thƣởng đối với cán bộ nhân viên. Tuy nhiên, luận văn này hiện chỉ nghiên cứu hệ thống KPI áp dụng cho doanh nghiệp tƣ nhân, không phải là ngân hàng thƣơng mại. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Xu hƣớng hiện nay của các ngân hàng thƣơng mại là tổ chức hoạt động theo hƣớng đa năng. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân chia các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại theo 3 nhóm chính, đó là: 1.
Huy động vốn Huy động vốn là hoạt động quan trọng của ngân hàng thƣơng mại. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại đƣợc thực hiện thông qua hành vi nhận gửi các loại tiền gửi có lãi suất khác nhau hoặc mở tài khoản để thực hiện thanh toán cho khách hàng. 6 Theo Luật các tổ chức tín dụng thì tiền gửi đƣợc hiểu là “số tiền khách hàng gửi lại tổ chức tín dụng dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi đƣợc hƣởng lãi hoặc không hƣởng lãi và phải đƣợc hoàn trả cho ngƣời gửi tiền”.
Với tƣ cách là trung gian tài chính, ngân hàng thu hút một số lƣợng lớn các tổ chức và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng. Ngân hàng trở thành ngƣời thủ quỹ cho vô số các khách hàng, thực hiện thu chi theo lệnh của chủ tài khoản. Ngày nay, ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển, hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đều mở tài khoản ở ngân hàng. Các giao dịch thanh toán, thu chi đƣợc thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng cách trích chuyển tài khoản.
Các giao dịch này đƣợc thực hiện thông qua các lệnh của khách hàng bằng các hình thức uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu. Các chủ tài khoản uỷ quyền cho ngân hàng thực hiện các lệnh chuyển tiền trên tài khoản của mình. Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế tăng lên đủ lớn cho các ngân hàng thƣơng mại, lƣợng tiền gửi thanh toán ngày càng tăng theo và đây là nguồn vốn huy động rất có lợi vì ngân hàng chỉ phải trả một số tiền lãi rất nhỏ. Lãi suất phổ biến đối với tiền gửi thanh toán của đồng nội tệ ở Việt Nam hiện nay là 0,25 %/tháng - trong khi lãi suất cho vay phổ biến nằm trong khoảng từ 0,8% đến 1,0%/tháng tuỳ theo đối tƣợng khách hàng, thời hạn vay và đối tƣợng vay, đồng thời thu đƣợc các khoản phí chuyển tiền của khách hàng.
Tuy nhiên, lƣợng nguồn vốn này luôn biến động. Với mục tiêu tập trung và tích tụ các nguồn vốn trong nền kinh tế để cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu vốn để phát triển sản xuất kinh doanh thì bên cạnh tiền gửi thanh toán các ngân hàng rất chú trọng đến việc huy động tiền gửi có kỳ hạn, đây sẽ là khoản nguồn vốn quan trọng để các ngân hàng có thể đầu tƣ cho vay, tài trợ cho nền kinh tế. Nhƣ vậy, bằng nghiệp vụ huy động nguồn vốn tiền gửi, có thể nói ngân hàng thƣơng mại đã nắm trong tay một bộ phận lớn của cải xã hội về mặt giá trị, tức là vốn tiền tệ. Để huy động đƣợc số tiền tệ nhƣ vậy các ngân hàng thƣơng mại phải bỏ 7 ra một khoản chi phí nhất định đó là tiền lãi phải trả cho ngƣời gửi tiền và các khoản chi phí quản lý khác.
Hoạt động tài trợ Hoạt động tài trợ là hoạt động chủ thể bỏ tiền ra để nhằm đạt mục đích nào đó. Đây là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thƣơng mại. Đối với ngân hàng thƣơng mại sau khi huy động đƣợc tiền gửi từ nền kinh tế thì ngân hàng sẽ phải trả lãi, do đó để khỏi bị thiệt hại đồng thời có đƣợc lợi nhuận, ngân hàng sẽ phải tìm cách sử dụng những nguồn vốn đó để sinh lời. Từ khoản lãi thu đƣợc ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi cho số vốn đã huy động, thanh toán các khoản chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận ngân hàng.
Nói cách khác, hoạt động tài trợ cho nền kinh tế là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển nên hoạt động tài trợ cho nền kinh tế cũng phát triển theo và ngày càng đa dạng thông qua các hoạt động nhƣ sau: Hoạt động cho vay Theo quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam về việc Ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì “cho vay” đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong nền kinh tế thị trƣờng hoạt động tín dụng cho vay cũng rất đa dạng và phong phú: Nếu phân theo mục đích vay, bao gồm: cho vay phục vụ sản xuất và cho vay tiêu dùng; Nếu phân theo thời hạn vay, có cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn. Một hình thức khác của hoạt động cho vay cũng khá phổ biến hiện nay là cho vay chiết khấu.
Chiết khấu các chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn đƣợc thực hiện dƣới hình thức khách hàng chuyển nhƣợng quyền sở hữu các chứng 8 từ chƣa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí. Khi chứng từ đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ngƣời phải trả tiền theo chứng từ. Trong điều kiện hiện nay, cho vay là hoạt động chính của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận, danh mục cho vay chiếm khoảng trên dƣới 1/3 tổng danh mục tài sản của ngân hàng thƣơng mại và mang lại thu nhập từ 1/3 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Do đó, hoạt động này có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thƣơng mại.
Tuy nhiên hoạt động cho vay cũng luôn tiền ẩn các rủi ro vì vậy xu hƣớng phát triển trong tƣơng lai là các ngân hàng sẽ chú trọng hơn các khoản thu nhập từ dịch vụ.