CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 1.1 Lý thuyết về dự toán ngân sách 1.1 Khái niệm dự toán -Theo Blocher & cộng sự (2010): Dự toán là một kế hoạch chi tiết để huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Một ngân sách bao gồm cả tài chính và phi tài chính của kế hoạch các hoạt động. Quá trình chuẩn bị ngân sách được gọi là lập ngân sách. -Theo Vanderbeck & cộng sự (2010): Dự toán ngân sách trong kinh doanh và công nghiệp là một phương pháp chính thức để lập kế hoạch tài chính chi tiết.
Nó bao gồm sự phối hợp và kiểm soát của tất cả các mục quan trọng trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu dài hạn và ngắn hạn. -Còn Hilton & cộng sự (2010): Dự toán ngân sách là một kế hoạch chi tiết thể hiện dưới dạng định lượng, dùng để huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy dự toán ngân sách là một kế hoạch tài chính được thể hiện dưới dạng định lượng, nhằm để huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định tạo điều kiện cho nhà quản trị hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra. Dự toán ngân sách là một hệ thống gồm nhiều dự toán: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu, dự toán chi phí nhân công, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán vốn đầu tư, dự toán tiền, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán.
Dự toán ngân sách được coi là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, của từng cá nhân phụ trách từng bộ phận từ đó xác định được trách nhiệm của mỗi bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định.2 Phân loại dự toán ngân sách Theo Blocher et al (2010) và Theo Hilton et al (2010) thì dự toán ngân sách giúp nhà quản trị đối chiếu, kiểm soát lại kết quả thực tế đối với kế hoạch vì thế yêu cầu nhà quản trị phải am hiểu từng loại dự toán thích ứng với từng nhu cầu và từng hoàn cảnh riêng biệt của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Tùy vào đặc điểm, tích chất riêng mà mỗi doanh nghiệp sẽ có cách phân loại dự toán khác nhau: Phân loại dự toán theo chức năng, theo thời gian, phương pháp lập,….1 Phân loại theo chức năng Theo tiêu thức này thì dự toán gồm 2 loại: dự toán hoạt động và dự toán tài chính. - Dự toán hoạt động Là dự toán phản ánh thu nhập và chi phí đòi hỏi để đạt được mục tiêu lợi nhuận. Dự toán hoạt động thường có những nội dụng sau: dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán chi phí bán hang và quản lý doanh nghiệp, dự toán chi phí tài chính.
Trong các tổ chức thương mại thì dự toán hàng hóa mua vào sẽ được lập thay dự toán sản xuất nhằm dự toán khối lượng hàng hóa cần thiết phải mua cho nhu cầu tiêu thụ và tồn kho. - Dự toán tài chính Là dự toán phản ánh tình hình tài chính theo dự kiến và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dự toán. Dự toán tài chính bao gồm dự toán vốn, dự toán đầu tư, báo cáo kết quả kinh doanh dự toán, bảng cân đối kế toán dự toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán.2 Phân loại theo thời gian - Dự toán ngân sách ngắn hạn Dự toán thường được lập trong một năm tài chính hoặc dưới 1 năm: tuần, tháng, quý phù hợp với kỳ kế toán của công ty nhằm thuận lợi cho việc đánh giá kết quả giữa thực tế và dự toán. Dự toán ngắn hạn thường liên quan đến việc mua hàng, bán hàng, doanh thu, chi phí, tiêu thụ hàng hóa,…Dự toán này được lập mỗi năm trước khi kết thúc niên độ kế toán nhằm hoạch định kế hoạch kinh doanh của công 123doc 12 ty trong năm kế hoạch kế tiếp.
Như vậy, để cung cấp thông tin đáng tin cậy cho việc lập dự toán ở các kỳ tiếp theo, đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn đánh giá đúng tình hình thực hiện dự toán. - Dự toán ngân sách dài hạn Dự toán dài hạn hay còn được gọi là dự toán vốn. Dự toán này liên quan đến tài sản cố định và được lập dự toán từ một năm trở lên. Đặc điểm của loại dự toán này mang lại rủi ro cao, thời gian từ lúc đưa vốn vào hoạt động đến lúc thu được lợi nhuận tương đối lâu.
Dự toán này khuyến khích các nhà quản lý chủ yếu sử dụng kiến thức chuyên môn để phán đoán các sự kiện xảy ra trong tương lai.3 Phân loại theo phương pháp lập - Dự toán cố định Dự toán với các số liệu cố định, ứng với một doanh thu dự kiến đã cho trước nào đó. Sau đó dự toán này sẽ không có thay đổi, điều chỉnh hay thay đổi gì của điều kiện dự toán. Dự toán này thường phù hợp với các công ty sản xuất sản phẩm theo các đơn đặt hàng, tình hình sản xuất kinh doanh có sự ổn định. - Dự toán linh hoạt Dự toán được thiết kế trong suốt phạm vi phù hợp hơn cho một mức độ hoạt động cụ thể.
Nó được dùng để xác định doanh thu, chi phí dự toán ở bất kỳ mức độ hoạt động thực tế nào để so sánh với các chi phí thực tế. Do đó, nó có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí thực tế của doanh nghiệp và phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất theo nhu cầu của thị trường.2 Mục đích, chức năng của việc lập dự toán 1.1 Mục đích Theo Blocher et al (2010, trang 365) thì mục đích cơ bản của dự toán ngân sách là phục vụ cho việc hoạch định và kiểm tra hoạt động kinh doanh. Thông qua đó mà người quản lý đạt được mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Ngoài ra dự toán ngân sách còn có một số vai trò khác như: 123doc 13 - Dự toán ngân sách tạo điều kiện cho nhà quản trị kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp và đánh giá được trách nhiệm quản lý của mỗi bộ phận, cá nhân trong tổ chức.
- Dự toán ngân sách cũng là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Trên cơ sở đó cũng đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ theo đúng tiến độ. - Dự toán ngân sách giúp cho các nhà quản trị cụ thể hóa các mục tiêu doanh nghiệp thông qua các số liệu để có cái nhìn khái quát hơn. - Dự toán ngân sách cung cấp cho các nhà quản trị tất cả thông tin của kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm trong mỗi thời gian cụ thể và toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.2 Chức năng - Lập kế hoạch Dự toán ngân sách buộc nhà quản trị sẽ dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai.
Ví dụ như, thay vì phải chờ đợi việc bán hàng xảy ra thì nhà quản trị phải biết được việc bán hàng sẽ xảy ra như thế nào và cách giải quyết vấn đề trước khi việc kinh doanh của doanh nghiệp bị bế tắc. Tóm lại, dự toán ngân sách đòi hỏi các nhà quản trị phải suy nghĩ liên tục về những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Nếu những vấn đề dự tính đó sẽ xảy ra và cho kết quả không tốt thì các nhà quản trị suy nghĩ về những gì cần phải làm để thay đổi kết quả không mong đợi đó. - Tổ chức và điều hành Tổ chức, điều hành là chức năng thể hiện sự liên kết giữa con người với con người trong tổ chức, giữa con người với mọi nguồn lực để nhằm đạt được hiệu quả hoạt động cao.
Dự toán ngân sách gắn liền với việc xác định trách nhiệm, đánh giá năng lực từng người trong doanh nghiệp để có thể tổ chức nhân sự tốt hơn và tổ chức việc phân bổ các nguồn lực phù hợp để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Dự toán ngân sách giúp thông tin, chỉ đạo các bộ phận trong tổ chức hiểu được kế 123doc 14 hoạch và thực hiện kế hoạch. Do đó dự toán ngân sách tạo ra sự phối hợp, liên kết giữa nhiều bộ phận trong doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu bộ phận tiêu thụ không phối hợp với bộ phận sản xuất thì sẽ dẫn đến việc thiếu nguồn hàng cung cấp hay sản xuất dư thừa dẫn đến hàng tồn kho cao.
Từ dự toán ngân sách, các nhà quản trị thực hiện đôn đốc, giám sát, kiểm soát việc thực hiện mục tiêu của các cá nhân trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các mục tiêu đề ra. - Chức năng kiểm soát Kiểm soát là quá trình đối chiếu kết quả thực hiện với dự toán và đánh giá việc thực hiện dự toán đó. Việc kiểm soát phụ thuộc nhiều vào dự toán, nếu không lập dự toán thì doanh nghiệp sẽ không có căn cứ để đối chiếu và đánh giá kết quả của việc thực hiện dự toán. Chức năng hoạch định luôn đi cùng với chức năng kiểm soát, kết quả hoạt động thực tế được đối chiếu với dự toán ngân sách.
Dự toán ngân sách của doanh nghiệp sẽ không phát huy hết các tác dụng của nó khi doanh nghiệp không thực hiện kiểm soát. Chức năng ra quyết định Chức năng ra quyết định là chức năng lựa chọn hợp lý và tối ưu các phương án và các giải pháp. Chức năng ra quyết định có sự gắn kết chặt chẽ với 3 chức năng trên. Trong quá trình hoạt động, nhà quản trị phải đối mặt với nhiều quyết định có sự ảnh hưởng đến doanh nghiệp của mình.
Dự toán ngân sách được xác định dựa trên kế hoạch. Do đó, nhà quản trị sẽ ra quyết định phân bổ nguồn lực hiện có của doanh nghiệp của mình đến các bộ phận như thế nào.