CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC VÀ PHÂN BỔ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.Tổng quan về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước Theo các tài liệu nghiên cứu một cách có hệ thống về ngân sách, khái niệm về Ngân sách nhà nước bắt đầu hình thành ở nước Anh, sau đó được sử dụng rộng rãi ở Pháp với ý nghĩa chỉ túi tiền của người thủ quỹ ngân khố. Luật NSNN năm 2002 của Việt Nam định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Đặc điểm Ngân sách Nhà nước NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể 5 kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ. - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư. - Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. - Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. - Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội. NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân [4]. Vai trò của ngân sách nhà nước Thứ nhất, NSNN thực hiện vai trò huy động nguồn tài chính nhằm đảm bảo lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây là vai trò rất quan trọng đối với Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu và cân đối NSNN.
Thứ hai, NSNN là một công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với vai trò này, Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, thị trường. Thông qua các chính sách tài khóa, Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết thông qua giá, chính sách thuế, dự trữ quốc gia, phát hành trái phiếu, chính sách chi tiêu chính phủ để ổn định KT-XH, thúc đẩy phát triển sản xuất. Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính để Nhà nước bù đắp những khiếm khuyết 6 của kinh tế thị trường.
Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để thực chính sách xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công, phát triển cân đối các vùng miền, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Thứ tư, NSNN như là công cụ để định hướng hình thành cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển sản xuất. Thông qua hoạt động chi NS, Nhà nước sẽ đầu tư vào các ngành, lĩnh vực then chốt nhằm đảm bảo tính ổn định hoặc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Nhà nước định hướng khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, kích thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển [4]. Phân loại thu, chi ngân sách Nhà nước 1. Thu ngân sách nhà nước Thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cãi xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta được chi thành 5 nhóm: - Thu thường xuyên, bao gồm các khoản thu phát sinh có tính chất thường xuyên - Thu về chuyển nhượng quyền sử dụng và bán tài sản của Nhà nước - Thu viện trợ không hoàn lại bao gồm tất cả các khoản thu viện trợ được sử dụng cho việc chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và cho vay lại. - Thu nợ gốc các khoản cho vay thu bán các cổ phần của nhà nước. - Thu vay của Nhà nước bao gồm các khoản thu vay trong nước, thu vay nước ngoài để sử dụng cho các mục đích đầu tư phát triển [5]. Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phố và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Tương tự như các khoản thu, các khoản chi cũng được chia thành 4 nhóm đó là: - Chi thường xuyên - Chi đầu tư phát triển - Chi cho vay vốn trợ quỹ và tham gia góp vốn của chính phủ, - Chi trả nợ gốc các khoản vay của Nhà nước. Chi thường xuyên gồm có chi thanh toán cho cá nhân; chi về hàng hóa, dịch vụ; Chi trả lãi tiền vay và các khoản lệ phí liên quan đến các khoản vay; các khoản chi khác như chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính… Chi đầu tư phát triển (ĐTPT) là những khoản chi có thời hạn tác động dài thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nước [5]. Việc phân loại các khoản chi thành chi thường xuyên và chi ĐTPT là rất cần thiết trong quản lý NSNN. Nó cho phép đánh giá, so sánh các khoản chi thường xuyên phải bỏ ra cho các hoạt động quản lý KTXH của Nhà nước làm cơ sở để xác định được các hiệu quả hoạt động các đơn vị.
Hệ thống định mức phân bổ ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm định mức phân bổ ngân sách Nhà nước ĐMPB ngân sách nhà nước là mức ngân sách được phân bổ theo từng địa bàn, từng lĩnh vực, ngành, đơn vị sử dụng ngân sách, phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao và phân cấp quản lý KTXH của nhà nước theo những tiêu chí nhất định. Các loại định mức phân bổ ngân sách Nhà nước Như trên đã nói chi NSNN có nhiều khoản chi, trong đó có 2 khoản chi lớn nhất và quan trọng nhất là: Chi thường xuyên và Chi đầu tư phát triển. Vì vậy định mức phân bổ ngân sách cũng được thực hiện cho 2 khoản chi đó.
- Định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên. - Định mức phân bổ ngân sách chi đầu tư phát triển. Định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN 1. Khái niệm, nội dung và đặc điểm chi thường xuyên NSNN * Khái niệm và nội dung: Trong giáo trình Quản lý tài chính công, chi thường xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm.
Nhìn chung, đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước trong các lĩnh vực như: Quốc phòng, an ninh, sự nghiệp, giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ…[4]. Theo luật Ngân sách năm 2015 nội dung chi thường xuyên ở cấp địa phương bao gồm: - Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn – xã: Hoạt động sự nghiệp văn hoá xã hội thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN bao gồm các đơn vị sự nghiệp – đào tạo (GDĐT), y tế, văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao (TDTT), thông tấn, báo chí, phát thanh - truyền hình (PTTH)… - Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Sự nghiệp giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp, sự nghiệp khí tượng, thuỷ văn, đo vẽ bản đồ, định canh, định cư và kinh tế mới… - Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước: Khoản chi này phát sinh ở hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân (KTQD). - Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ NSNN như: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận tổ quốc, hội Cựu chiến binh, hội nông dân tập thể, hội liên hiệp Phụ nữ.