phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu ham khảo và mục luc, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán thu nhập-chi phí của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng về công tác kế toán thu nhập-chi phí của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ Chƣơng 3: Định hƣớng phát triển và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán thu nhập-chi phí của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THU NHẬP-CHI PHÍ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và các nghiệp vụ của ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo qui định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
(Nguồn: Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Một số nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh cuả ngân hàng thƣơng mại có rất nhiều nghiệp vụ khác nhau và ngày càng đƣợc phát triển đa dạng, phong phú. - Các nghiệp vụ tài sản nợ (Bên có ) - Các nghiệp vụ tài sản có ( Bên nợ ) - Các nghiệp vụ trung gian 1. Các nghiệp vụ tài sản nợ ( nghiệp vụ nguồn vốn ) Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ tạo nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng.
Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại là những giá trị do ngân hàng huy động tạo lập đƣợc dùng để cho vay, đầu tƣ và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Nguồn vốn tạo ra các tài sản nợ của ngân hàng bao gồm : - Nguồn vốn huy động : Đây là nguồn vốn mà ngân hàng huy động đƣợc từ các khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong xã hội. Thông thƣờng nguồn vốn huy động chiếm một tỷ 5 trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại, đây là nguồn vốn quan trọng và chủ yếu để đáp ứng mọi nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động bao gồm : + Tiền gửi thanh toán + Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn - Vốn đi vay : Khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế vƣợt quá tổng số nguồn vốn huy động trên để đảm bảo cho mọi hoạt động của nền kinh tế tiến hành đều đặn, ngân hàng đảm bảo cung cấp mọi nhu cầu vốn cho nền kinh tế thì ngân hàng thƣơng mại còn có thể huy động qua các khoản vốn vay sau: + Vốn của ngân hàng TW : Ngân hàng TW cho các ngân hàng thƣơng mại vay vốn trong trƣờng hợp ngân hàng thƣơng mại thiếu vốn tạm thời đáp ứng hoạt động kinh doanh và thanh toán chi trả, hình thức vay chủ yếu là thanh toán triết khấu.
Ngân hàng TW với tƣ cách là ngƣời cho vay cuối cùng đối với ngân hàng thƣơng mại. Tuy nhiên việc này nằm trong khuôn khổ của chính sách tiền tệ. + Vav ở các tổ chức tín dung khác : Ở bất kỳ mọi thời điểm nào cũng có những ngân hàng có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi tại tài khoản tiền gửi thanh toán của họ ở ngân hàng nhà nƣớc, khoản này có khả năng sinh lời không đáng kể. Bởi vậy họ sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay trong một thời gian ngắn.
Quá trình vay và cho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng thƣơng mại trên thị trƣờng tiền tệ đƣợc diễn ra khá phổ biến dƣới nhiều hình thức, thời hạn cho vay lãi suất cho vay thƣờng rất linh hoạt nhằm đảm bảo khả năng chi trả cho bất kỳ lúc nào của ngân hàng thƣơng mại. - Vốn tự có của ngân hàng thƣơng mại: Vốn tự có của Ngân hàng thƣơng mại là vốn riêng của ngân hàng đƣợc hình thành qua quá trình tạo lập ở một ngân hàng và thuộc sở hữu của một ngân hàng, nó đƣợc hình thành khi thành lập ngân hàng và không ngừng đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động. 6 Do tính chất ổn định và thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, vốn tự có đƣợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định, thiết bị làm việc và tham gia làm vốn liên doanh, liên kết, mua cổ phần. vốn tự có có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại.
Nghiệp vụ tài sản có ( sử dụng vốn ) Nghiệp vụ tài sản có là nghiệp vụ sử dụng vốn phân bổ các nguồn vốn vào các mục đích kinh doanh. Bao gồm : - Nghiệp vụ ngân quỹ: Đây là khoản tiền dự trữ để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng. Mục đích của việc dự trữ là phƣơng tiện thanh toán để đảm bảo khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng mình. Dự trữ tiền mặt tại quỹ và tiền gửi tại ngân hàng TW, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán chi trả của ngân hàng.
Việc dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, phụ thuộc vào tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt đáp ứng tổng khối lƣợng tiền thanh toán và phụ thuộc vào các nhu cầu mang tính thời vụ về tiền mặt. Dự trữ dƣới hình thức tiền gửi thanh toán tại ngân hàng TW thì mức độ dự trữ cao hay thấp phụ thuộc vào nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng đặc biệt là trong thanh toán bù trừ. Đối với dự trữ bắt buộc: Đây là hình thức dự trữ theo quyết định của ngân hàng TW, làm công cụ chủ yếu để ngân hàng TW điều hành chính sách tiền tệ, các tài sản dự trữ trong nghiệp vụ này không đem lại một chút lợi nhuận nào cho ngân hàng song nó đáp ứng cho các nhu cầu rút tiền thoả mãn các nhu cầu vay tiền, đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của ngân hàng, đảm bảo uy tín của ngân hàng. - Nghiệp vụ tín dụng : Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại, là nghiệp vụ cơ bản đóng vai trò quyết định cho việc kinh doanh và phƣơng hƣớng phát triển của ngân hàng.
Nghiệp vụ cho vay thƣờng chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số tài sản có của ngân hàng. Xu hƣớng chung muốn nâng cao tỷ trọng của nghiệp vụ, tuy 7 nhiên nghiệp vụ này còn gặp nhiều rủi ro. Đòi hỏi ngân hàng thƣơng mại phải tuân thủ nguyên tắc quản lý các khoản cho vay. - Nghiệp vụ tài chính : Đây cũng là một trong những nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng, bao gồm: + Ngân hàng đầu tƣ vào chứng khoán của nhà nƣớc.
+ Ngân hàng đầu tƣ vào chứng khoán của công ty. + Ngân hàng góp vốn liên doanh, liên kết để thành lập công ty. Nghiệp vụ trung gian Đặc trƣng cơ bản của nghiệp vụ này là ngân hàng phải bỏ vốn ra rất ít thậm chí không phải bỏ vốn ra để kinh doanh, rủi ro ít song đối với các nghiệp vụ này đòi hỏi phải có kỹ thuật, áp dụng công nghệ ngân hàng. Nghiệp vụ trung gian là việc ngân hàng đứng ra làm trung gian, làm môi giới để phục vụ theo yêu cầu của khách hàng nhƣ nghiệp vụ thu hộ, nghiệp vụ chi hộ, nghiệp vụ làm trung gian thanh toán qua ngân hàng, nghiệp vụ hoạt động của ngân hàng trên thị trƣờng chứng khoán, nghiệp vụ uỷ thác tƣ vấn.
Thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ này ngân hàng sẽ đƣợc hƣởng một khoản lệ phí hoa hồng, đây là một khoản thu nhập của ngân hàng. Khi nền kinh tế càng phát triển thì nghiệp vụ này càng đƣợc mở rộng và đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Do đó trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng thƣơng mại ngoài việc đầu tƣ các nghiệp vụ taì sản có, nghiệp vụ tài sản nợ thì ngân hàng còn quan tâm đến việc đầu tƣ trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, áp dụng công nghệ ngân hàng để mở rộng các nghiệp vụ trung gian. Nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian là 3 nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại, các nghiệp vụ này có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Nghiệp vụ tài sản có quyết định phạm vi, quy mô sử dụng vốn, đồng thời qua nghiệp vụ này phản ánh đƣợc phần lớn nhu cầu chi phí của ngân hàng, nghiệp vụ tài sản có quyết định mức thu nhập của mỗi ngân hàng. Đồng thời nghiệp vụ trung gian là nghiệp vụ do trung gian tín dụng của ngân hàng mà có. Tuy nhiên nghiệp vụ này cũng góp phần làm tăng thu nhập và phát triển hoạt động của ngân 8 hàng từ đó thu hút đƣợc khách hàng. Thông qua các chức năng này đã khẳng định đƣợc vai trò của ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế thị trƣờng 1.
Một số các văn bản quy phạm pháp luật qui định chính đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Luật Doanh Nghiệp Luật Doanh nghiệp quy định mức vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu bằng vốn pháp định quy định cho từng loại hình tổ chức tín dụng. NHTM phải thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi và thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà nƣớc, phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Nếu trong hoạt động NHTM bị lỗ thì NHTM phải tự giải thể, phá sản.
Qui định việc xác định kết quả kinh doanh, phân phối lãi, nộp thuế cho Nhà nƣớc đối với từng loại hình NHTM. Đồng thời hàng năm TCTD phải đƣợc một đơn vị kiểm toán độc lập kiểm toán, BCTC quyết toán năm kết quả kiểm toán phải báo cáo NHNN, báo cáo cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền bắt buộc phải công bố công khai trên bảng tổng kết tài sản.