CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO THUYỀN VIÊN CỦA CÔNG TY VẬN TẢI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Thứ nhất, “Nguồn nhân lực còn được hiểu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động”1. Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là khả năng lao động của xã hội bao gồm những người có khả năng lao động tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực và đây chính là bộ phận nguồn nhân lực mà môn học kinh tế lao động tập trung nghiên cứu.
Thứ hai, “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”2. Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Những khái niệm trên đây chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Trong phạm vi doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” 3.
Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh 1 Giáo trình Kinh tế Lao động;Trường Đại học Kinh tế quốc dân; PGS. Mai Quốc Chánh; PGS. TS Trần Xuân Cầu; 2008; trang 16. 2 Giáo trình Kinh tế Nguồn Nhân lực; Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; PGS.
Trần Xuân Cầu; PGS. Mai Quốc Chánh; 2008; trang 12. 3 Giáo trình Quản trị nhân lực; Trường đại học kinh tế quốc dân; Ths. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân; 2004; trang 8.
6 tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được động viên, phối hợp tốt với nhau. Trong luận văn này khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ nhất định, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo:” được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn” 4 Khái niệm này vừa nhấn mạnh đến nội dung của đào tạo vừa đề cập đến tác dụng của đào tạo đối với người lao động.
Đào tạo còn được hiểu “là một qui trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc”5 Khái niệm này nhấn mạnh đến hiệu quả của đào tạo nhưng lại không đề cập đế nội dung của đào tạo. Thuyền viên Thuyền viên là tất cả những người lao động và tham gia lao động có tính chất thường xuyên trên thuyền biển hoặc thuyền sông. Đào tạo thuyền viên Là hoạt động nhằm giúp cho thuyền viên tiếp thu kiến thức và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công việc được giao. Điểm giống nhau và khác nhau giữa đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo Thuyền viên 4 Giáo trình Quản trị nhân lực; Trường đại học kinh tế quốc dân; Ths.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân; 2007, trang 153. 5 Bộ sách Quản trị nguồn nhân lực, Business edge, nhà xuất bản trẻ 2006. 7 Đào tạo thuyền viên nhìn chung có một số điểm giống với đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đều là quá trình cung cấp những kiến thức và kỹ năng còn thiếu hụt của người lao động để họ là tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, đào tạo Thuyền viên trong công ty vận tải Biển có sự khác biệt với đào tạo nguồn nhân lực nói chung, sự khác biệt này thể hiện ở đặc điểm công việc của Thuyền viên.
- Khác nhau về đặc điểm công việc của Thuyền viên là loại lao động nặng nhọc, độc hại, môi trường làm việc của thuyền viên chủ yếu là làm việc trên Biển hoặc trên sông nên rất nguy hiểm đến tính mạng của Thuyền viên khi tham gia lao động. Vì vậy, công tác đào tạo cũng đòi hỏi phải được tổ chức, thực hiện và đánh giá một cách chặt chẽ, nếu không sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của Thuyền viên và tính mạng của họ khi Tham gia lao động. - Thời gian làm việc của Thuyền viên không ổn định về môi trường làm việc, có thời gian Thuyền viên làm việc trên Biển và có thời gian làm việc trên bờ. Vì vậy để thực hiện được công tác đào tạo Thuyền viên của công ty vận tải biển cần xem xét một cách cụ thể kế hoạch công việc của Thuyền viên thì mới thực hiện được các nội dung của công tác đào tạo hiệu quả.
Ví dụ, lựa chọn thời điểm tổ chức đào tạo, lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp với thời gian làm việc trên Biển, trên sông hay trên bờ. - Công việc của Thuyền viên liên quan đến vấn đề chính trị, an ninh của một quốc gia vì họ có điều kiện giao lưu với các nước trên thế giới vì vậy công tác đào tạo cần nhấn mạnh đến rèn luyện ý thức chính trị, thái độ thực hiện công việc và kiến thức về luật pháp trong nước và quốc tế cho Thuyền viên. - Công việc của các Thuyền viên khi lao động trên biển có liên quan đến chặt chẽ với nhau, chỉ cần một Thuyền viên thiếu kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc thì sẽ ảnh hưởng đến công việc và tính mạng của các Thuyền viên khác. Vì vậy, công tác đào tạo cũng đòi hỏi sự quản lý và thực hiện có hiệu quả cao.
Vai trò của Thuyền viên trong Công ty vận tải 8 Trong một công ty vận tải nếu theo tính chất công việc thì có thể phân ra thành hai nhóm lao động, một nhóm lao động là lao động gián tiếp, công việc của họ chủ yếu là đảm bảo mọi yếu tố cho nhóm lao động trực tiếp đảm bảo vận hành công việc theo tiến độ và đạt hiệu quả cao. Nhóm lao động trực tiếp là lao động thực hiện các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong một doanh nghiệp vận tải Thuyền viên là đội ngũ lao động trực tiếp, có các vai trò quan trọng: - Đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tồn tại. - Đem lại nguồn thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Giúp doanh nghiệp thực hiện được các tiêu chuẩn quy định của pháp luật và đảm bảo đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo của doanh nghiệp Trong một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vận tải nói riêng công tác đào tạo đều chịu ảnh hưởng bởi một số nhân tố cơ bản. Các nhân tố bên trong tổ chức 1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Cơ cấu tổ chức đơn giản hay phức tạp sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và trao đổi thông tin thuận lợi hay khó khăn.
Cơ cấu tổ chức cũng là cơ sở cho việc sử dung các loại lao động khác nhau. Nếu cơ cấu tổ chức đơn giản thực thi và quản lý đào tạo cũng dễ dàng hơn và ngược lại. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của tổ chức. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của tổ chức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất lao động mà tổ chức đó sử dụng, đến các tiêu chuẩn xã hội và kinh phí dành cho công tác đào tạo.
Nếu tổ chức sử dụng lao động trình độ cao và tính chất công việc phải thay đổi thường xuyên thì tất yếu nội dung công việc giao cho người lao động cũng phải thay đổi và nhu cầu đào tạo sẽ xuất hiện và cần được đáp ứng để đảm bảo cho công việc được thực thi hiệu quả. Ngược lại, ở những tổ chức đặc điểm sản xuất kinh doanh là sản xuất những mặt hàng thủ công, giản đơn, đòi hỏi năng khiếu lao động là chủ yếu thì công tác đào tạo lại không cần thiết. Mặt khác, 9 một số doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành nghề đòi hỏi phải thực thi các tiêu chuẩn xã hội để đảm bảo cho doanh nghiệp được tham gia vào môi trường kinh doanh và tăng uy tín trên thị trường, ví dụ như các doanh nghiệp kinh doanh trong nghành dệt may Việt nam, đòi hỏi phải đạt tiêu chuẩn SA8000 của Mỹ để gia nhập thị trường dệt may Mỹ tất yếu phải thực thi các tiêu chuẩn, trong đó có tiêu chuẩn chất lượng lao động thì tất yếu công tác đào tạo cũng phải thực hiện dù đôi khi doanh nghiệp thấy chưa cần thiết. Bên cạnh đó, lĩnh vực kinh doanh có mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay không cũng sẽ ảnh hưởng đến quỹ đầu tư cho hoạt động đào tạo và qua đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đào tạo.
Quan điểm của lãnh đạo cấp cao. Quan điểm của lãnh đạo cấp cao có quan tâm và hướng tới phát triển lao động sẽ quyết định tới có thực hiện và thực hiện như thế nào công tác đào tạo của tổ chức đó. Nếu lãnh đạo cấp cao nhận thức được tầm quan trọng của lao động và vai trò của công tác đào tạo trong chiến lược phát triển của một tổ chức, lãnh đạo cấp cao sẽ tạo điều kiện về mọi mặt: thời gian, kinh phí, hỗ trợ trong giảng dạy, tạo cho bộ phận chuyên trách một số quyền nhất định để thực thi công tác đào tạo.sẽ tác động rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả đào tạo. Ngược lại, lãnh đạo cấp cao không nhận thức được vai trò của đào tạo và ủng hộ cho việc thực thi công tác đào tạo thì hoạt công tác đào tạo trong tổ chức không được thực hiện dù tổ chức có đầy đủ mọi điều kiện và người lao động có nhu cầu đào tạo hoặc có thực hiện công tác đào tạo nhưng không đem lại hiệu quả.
Khả năng tài chính.