Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Hoà Bình. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Hoà Bình Phần kết luận 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm và vai trò đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm về nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con ngƣời và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh khác nhau.
Tƣơng đƣơng với nguồn lao động: “NNL gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [2, tr35]. “NNL là tổng hợp những cá nhân con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố vật chất tinh thần tham gia vào quá trình lao động” [2, tr35]. Các cách hiểu trên có sự khác nhau về mặt quy mô nhƣng đều là nguồn lực nói lên khả năng lao động của xã hội đƣợc xem xét trên giác độ số lƣợng và chất lƣợng. “Số lƣợng nguồn nhân lực thể hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Về chất lƣợng, nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất,…” [2,tr36]. Vậy có thể hiểu nguồn nhân lực trong tổ chức là toàn bộ số lao động do doanh nghiệp quản trị, sử dụng và trả lƣơng và trả công. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ và phạm vi khác nhau. Xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản, quan niệm của các nƣớc và tổ chức quốc tế về nguồn nhân lực tƣơng đối thống nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nguồn nhân lực.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. 8 Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Ths. Nguyễn Vân Điềm và PGS. Nguyễn Ngọc Quân, “Đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập nhằm làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nâng cao trình độ, kĩ năng của ngƣời lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn” [5,tr153]. Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của TS. Trần Kim Dung thì “Đào tạo là bất cứ nỗ lực nào để cải thiện kết quả của nhân viên, dựa trên công việc hiện nay họ đang nắm giữ hoặc công việc nào có liên quan. Điều này thƣờng có nghĩa là những thay đổi về mặt kiến thức, những kĩ năng, quan điểm hoặc thái độ cụ thể” [3, tr161].
Vậy có thể hiểu đơn giản đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để ngƣời lao động thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình. Vai trò đào tạo nguồn nhân lực Đối với một quốc gia, giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của ngƣời lao động có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội và khả năng cạnh tranh quốc tế của quốc gia đó. Nhu cầu đào tạo nhân viên trong các tổ chức tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, công nghệ tiên tiến và áp lực về kinh tế xã hội. Đào tạo đƣợc xem nhƣ một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lƣợc của tổ chức.
Giờ đây chất lƣợng nhân viên đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng có vai trò sau: - Trực tiếp giúp cho nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi nhân viên thực hiện công việc không đƣợc đáp ứng các tiêu chuẩn mẫu hoặc 9 khi nhân viên nhận công việc mới. Từ đó giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động. - Giải quyết các vấn đề tổ chức: Đào tạo và phát triển có thể giúp các nhà quản trị giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách quản lý nguồn nhân lực của công ty hiệu quả hơn.
- Đào tạo không chỉ nhằm có đƣợc nguồn nhân lực đủ về số lƣợng, bảo đảm về chất lƣợng mà còn là một hình thức đãi ngộ nhân sự thông qua việc làm. Nó góp phần giúp cho ngƣời lao động ổn định và cải thiện đƣợc đời sống của bản thân và gia đình họ. - Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kinh tế: Đào tạo và phát triển giúp cho nhân viên có đƣợc những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý chuyên môn khi cần thiết. Chất lƣợng nguồn nhân lực cao tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Thoả mãn nhu cầu đào tạo cho nhân viên: Đƣợc trang bị những kỹ năng chuyên môn cần thiết sẽ kích thích nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đạt đƣợc nhiều thành tích hơn, muốn đƣợc trao những nhiệm vụ có tính thách thức cao hơn, có nhiều cơ hội thăng tiến hơn,… Từ đó khích lệ sức khuấy động để cho nhân viên phát huy đƣợc đầy đủ tiềm lực nội tại của mình. Các hình thức và phƣơng pháp đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức Hiện nay có rất nhiều phƣơng pháp để đào tạo nguồn nhân lực. Mỗi một phƣơng pháp có cách thức thực hiện, ƣu nhƣợc điểm riêng. Căn cứ vào ƣu nhƣợc điểm của từng phƣơng pháp mà tổ chức lựa chọn phƣơng pháp đào tạo cho phù hợp với điều kiện công việc, đặc điểm về lao động và về nguồn tài chính của mình.
Đào tạo trong công việc (O.T) Đào tạo trong công việc là các phƣơng pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc trong đó ngƣời học sẽ học đƣợc những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho 10 công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thƣờng là dƣới sự hƣớng dẫn của những ngƣời lao động lành nghề hơn. Nhờ đó cho ngƣời đƣợc đào tạo trực tiếp có thể nắm bắt đƣợc kỹ năng làm việc và nâng cao một cách hiệu quả năng lực công tác. Phƣơng pháp này thích hợp cho việc đào tạo kỹ thuật. Đào tạo trong công việc là phƣơng pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó ngƣời học sẽ học đƣợc những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thƣờng là dƣới sự hƣớng dẫn của những ngƣời lao động lành nghề hơn.
Nhóm này bao gồm những phƣơng pháp đào tạo nhƣ: Chỉ dẫn công việc ĐÀO Kiểu học nghề TẠO TRONG CÔNG Kèm cặp và chỉ bảo VIỆC Luân chuyển, thuyên chuyển Sơ đồ 1.1: Các phƣơng pháp đào tạo trong công việc Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc Đây là phƣơng pháp phổ biến dùng để dạy các kỹ năng thực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một số công việc quản lý. Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của ngƣời dạy về mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bƣớc về các quan sát, trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dƣới sự hƣớng dẫn, chỉ dẫn chặt chẽ của ngƣời dạy. Đào tạo theo kiểu học nghề 11 Theo phƣơng pháp này, chƣơng trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý thuyết trên lớp, sau đó các học viên đƣợc đƣa đến nơi làm việc dƣới sự hƣớng dẫn của của công nhân lành nghề trong một vài năm; đƣợc thực hiện các công việc thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. Phƣơng pháp này dùng để dạy một nghề hoàn chỉnh cho công nhân, là sự kèm cặp của công nhân lành nghề đối với ngƣời học và là phƣơng pháp thông dụng ở Việt Nam.
Kèm cặp và chỉ bảo Phƣơng pháp này thƣờng dùng để giúp cho cán bộ quản lý và nhân viên giám sát có thể học đƣợc các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc trƣớc mắt và cả công việc tƣơng lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của những ngƣời quản lý giỏi hơn. Có ba cách để kèm cặp là: + Kèm cặp bởi ngƣời lãnh đạo trực tiếp + Kèm cặp bởi một cố vấn + Kèm cặp bởi một ngƣời quản lý có kinh nghiệm hơn Luân chuyển và thuyên chuyển công việc Luân chuyển và thuyên chuyển công việc là phƣơng pháp chuyển ngƣời quản lý từ công việc này sang công việc khác để nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Những kiến thức và kinh nghiệm thu đƣợc qua quá trình đó sẽ giúp cho họ có khả năng thực hiện đƣợc những công việc cao hơn trong tƣơng lai. Có thể luân chuyển, thuyên chuyển công việc theo ba cách: + Chuyển đối tƣợng đào tạo đến nhận cƣơng vị quản lý ở một bộ phận khác trong tổ chức nhƣng với chức năng và quyền hạn nhƣ cũ.
+ Ngƣời quản lý đƣợc cử đến nhận cƣơng vị công tác mới ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ. + Ngƣời quản lý đƣợc bố trí luân chuyển công việc trong phạm vi nội bộ một nghề chuyên môn 12 Những ưu điểm của đào tạo trong công việc: - Đào tạo trong công việc thƣờng không yêu cầu một không gian hay những trang thiết bị riêng đặc thù. - Đào tạo trong công việc có ý nghĩa thiết thực vì học viên đƣợc làm việc và có thu nhập trong khi học. - Đào tạo trong công việc mang lại một sự chuyển biến gần nhƣ ngay tức thời trong kiến thức và kỹ năng thực hành (mất ít thời gian đào tạo).
- Đào tạo trong công việc cho phép học viên thực hành những gì mà tổ chức trông mong ở họ sau khi quá trình đào tạo kết thúc. - Đào tạo trong công việc tạo điều kiện cho học viên đƣợc làm việc cùng với những đồng nghiệp tƣơng lai của họ; và bắt chƣớc những hành vi lao động của những đồng nghiệp. Những nhược điểm của đào tạo trong công việc: - Lý thuyết đƣợc trang bị không có hệ thống. - Học viên có thể bắt chƣớc những kinh nghiệm, thao tác không tiên tiến của ngƣời dạy.
Đào tạo ngoài công việc (Off.