CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NNL TRONG DN 1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu 1. NNL Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khái niệm “NNL” dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo Bách khoa toàn thư thì NNL được định nghĩa như sau: “NNL là tập hợp những con người tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, một lĩnh vực kinh doanh, một ngành hoặc một nền kinh tế” (wikipedia. Theo Liên Hợp quốc thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), NNL “là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển”. NNL của quốc gia là toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng tham gia lao động, là những người có sự phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, ILO cho rằng “NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động”.TS Phạm Minh Hạc: “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những NLĐ có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”.TS Nguyễn Tiệp, NNL là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển KTXH. NNL có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn 5 lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên làm cho các nguồn lực khác trở nên có ích. Từ các quan niệm trên, có thể hiểu NNL trong tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ làm việc trong DN, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động trong quá trình lao động. Mặc dù có nhiều các định nghĩa khác nhau về NNL và có nhiều cách tiếp cận, nhưng các định nghĩa về NNL đều đề cập đến các khía cạnh: - Số lượng NNL: trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai.
Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và các yếu tố bên ngoài của tổ chức (sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân). - Chất lượng NNL: là sự tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận, như: trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là quan trọng nhất trong việc xem xét đánh giá chất lượng NNL. Đào tạo NNL Do các cách tiếp cận khác nhau nên cách hiểu về đào tạo NNL cũng khác nhau.
Theo nghĩa rộng nhất của giáo trình về Quản lý NNL trong DN của Lê Quân (2014), đào tạo NNL là một chuỗi các hoạt động học tập có tổ chức được diễn ra trong khoảng thời gian nhất định nhằm mang lại những thay đổi về hành vi của NLĐ. Phát triển và đào tạo nhân lực cũng làm tăng số lượng và cải thiện chất lượng của nhân viên, giúp tổ chức có cơ cấu NLĐ phù hợp, từ đó cải thiện hiệu quả lao động, dẫn đến một tổ chức ngày càng phát triển và nâng cao hiệu quả công việc tổ chức. Đào tạo bao gồm các hoạt động cải thiện kỹ năng hoặc khả năng của một cá nhân cho công việc hiện tại của họ. Đào tạo giúp các cả nhân phát triển kiến thức, kỹ năng và tay nghề, đồng thời tạo tiền đề nâng cao năng suất và chất lượng công việc.
Trong đào tạo cá nhân, đào tạo NNL có những phương pháp tương tự được sử dụng để tác động đến quá trình học tập nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành. 6 Tuy nhiên, việc đào tạo hiện đang được định hướng, tập trung vào công việc hiện tại của nhân viên và giúp họ nhanh chóng có được kiến thức và kỹ năng để thực hiện tốt công việc hiện tại của họ, phát triển NNL tập trung vào công việc trong tương lai của công ty. Khi người mới được đề bạt lên một vị trí mới, họ cần phải có những kiến thức và kỹ năng mới phù hợp với yêu cầu của vị trí đó. Phát triển NNL giúp các cá nhân chuẩn bị kiến thức và kỹ năng họ cần.
Hoạt động đào tạo là một chuỗi hành động diễn ra trong một khoảng thời gian xác định của tổ chức với mục đích là có thể giúp NLĐ nắm rõ hơn các nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng tại vị trí công việc đảm nhiệm. Bên cạnh đó, bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng còn thiếu để thực hiện công việc đạt được kết quả tốt nhất. Hoạt động đào tạo nhân lực chính là hướng vào phục vụ cho những yêu cầu của công việc ngắn hạn và đa phần mang tính chất nền tảng. Nhìn chung, đào tạo NNL là hoạt động học tập giúp tạo điều kiện cho nhân viên thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của bản thân một cách hiệu quả hơn.
Đây là quá trình trau dồi làm cho NLĐ ý thức rõ hơn trong công việc, hoạt động học tập để nâng cao trình độ nhân viên, kỹ năng thực hiện các nhiệm vụ công việc hiệu quả hơn. Mối quan hệ giữa đào tạo NNL với Quản trị nhân lực trong DN Đào tạo NNL là một trong số các chức năng của quản trị NNL. Bản thân công tác đào tạo NNL không phải đứng độc lập, riêng lẻ với các chức năng khác, mà thực tế chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. - Mối quan hệ giữa đào tạo NNL với công tác kế hoạch hóa NNL (KHHNNL) trong tổ chức, DN: Kế hoạch hoá NNL được hiểu là quá trình thông qua đó các DN đảm bảo được đầy đủ về số lượng và chất lượng người làm việc phù hợp với yêu cầu công việc.
Theo những bản mô tả công việc, trên cơ sở chiến lược sản xuất kinh doanh của DN, KHHNNL có nhiệm vụ dự báo nhu cầu nhân lực để đáp ứng các mục tiêu sản xuất kinh doanh. Đồng thời, đánh giá khả năng sẵn có về số lượng và chất lượng lao động hiện tại cũng như trong thời gian tới. 7 Giữa công tác kế hoạch hoá và công tác đào tạo, phát triển NNL trong DN có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Kế hoạch hóa NNL giúp xác định nhu cầu cho công tác đào tạo và phát triển NNL.
Ngược lại, đào tạo và phát triển NNL lại là một giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt NNL trong công tác kế hoạch hóa. - Mối quan hệ giữa đào tạo NNL với công tác tuyển dụng: Xây dựng NNL đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng nhằm giúp DN có thể hoạt động tốt, từng bước đạt được mục tiêu, thì các DN phải thực hiện việc tuyển dụng, cũng như đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân viên của mình. Giữa đào tạo và công tác tuyển dụng cũng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Đào tạo có thể làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu tuyển dụng NNL có chất lượng cao và ngược lại, việc tuyển dụng cũng có thể làm tăng (hoặc giảm) nhu cầu đào tạo.
- Mối quan hệ giữa đào tạo NNL với phân công, đánh giá hiệu quả công việc trong tổ chức, DN: NLĐ sau khi được tham gia các lớp đào tạo, họ được nâng cao trình độ chuyên môn - nghiệp vụ, kỹ năng. Hoặc có được những kiến thức và kỹ năng mới để áp dụng vào thực tiễn công việc nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đem lại hiệu quả tối đa cho DN. Mặc dù thế, khả năng đóng góp của họ vào kết quả sản xuất kinh doanh của DN mới chỉ là tiềm năng, chưa được khai thác. Để những chi phí bỏ ra cho đào tạo và phát triển NNL thực sự có ý nghĩa đối với sản xuất kinh doanh, thì vấn đề sử dụng lao động nói chung và sử dụng sau đào tạo nói riêng lại cực kỳ quan trọng đối với hiệu qủa công tác đào tạo và phát triển NNL trong DN.
Mặt khác, hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển NNL của DN được thể hiện qua kết quả đánh giá mức độ thực hiện công việc của NLĐ sau khi được đào tạo. Đây là một nội dung quan trọng không những giúp DN đánh giá được công tác đào tạo và phát triển, mà còn giúp DN xác định được chính xác nhu cầu đào tạo thực sự của mình. Kết quả sản xuất - kinh doanh của DN phụ thuộc vào năng suất, chất lượng của lao động tạo ra, hay hiệu quả sử dụng lao động trong DN. Do đó, kiến thức và kỹ năng của NLĐ có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh của DN hay không còn 8 tuỳ thuộc vào tình hình sử dụng lao động của DN đó.
Nói cách khác, nó phụ thuộc vào việc DN lên kế hoạch phân công công việc và đánh giá kết quả ra sao. - Mối quan hệ giữa đào tạo NNL với công tác khuyến khích và khen thưởng: Khen thưởng thực sự là một nội dung có tầm quan trọng rất lớn đối với NLĐ, tạo động lực khuyến khích NLĐ tích cực đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp chung, mục tiêu chung của DN. Thực tế, không ai là không muốn được khen thưởng, song khen thưởng như thế nào để vừa động viên, khuyến khích được người được khen, lại vừa lôi kéo, cổ vũ người chưa được khen cố gắng hơn nữa.