CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về đào tạo nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm cơ bản Nguồn nhân lực Khái niệm đào tạo nhân lực của doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực do vậy khái niệm nguồn nhân lực cũng có nhiều cách diễn giải khác nhau.
Thuật ngữ nguồn nhân lực ( human resource) xuất hiện từ những năm 80 của thế ký 20 khi mà có sự chuyển đổi cơ bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Theo Nicholas Henry (2017), “ nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức ( với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” Có ý kiến khác lại cho rằng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức (George T.TS Bùi Văn nhơn (2006) nêu rõ “ nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” Theo PGS. Trần Xuân Cầu và PGS. Mai Quốc Chánh (2008), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân : “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.
1 Và “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Có thể nói, tùy vào cách tiếp cận mà khái niệm về nguồn nhân lực khác nhau, từ đó những mô hình nguồn nhân lực cũng khác nhau. Ví dụ, với cách tiếp cận dựa trên trạng thái hoạt động kinh tế của con người: NNL được hiểu là tất cả mọi người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa; Nếu tiếp cận dựa trên năng lực làm việc của NNL, NNL được hiểu là năng lực làm việc của cá nhân, của xã hội, của tất cả mọi người có sự phát triển và năng lực làm việc bình thường.
Thậm chí, nếu tiếp cận khái niệm NNL dựa trên năng lực lao động và giới hạn độ tuổi lao động thì NNL ở đây được hiểu là tất cả những người thuộc lứa tuổi lao động, có khả năng làm việc bất kể tình trạng việc làm hay thất nghiệp. Với khái niệm trên, quy mô của nguồn nhân lực là nguồn lao động.TS Nguyễn Tiệp (2005), trong giáo trình Nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động xã hội thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. (Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.
Theo do Vũ Thị Mai, Phạm Thùy Hương (2011), trong giáo trình “ Quản trị nhân lực” của Nhà xuất bản Đại học KTQD nêu rõ : Đào tạo là các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng NNL của một tổ chức. Đây là một yêu cầu quan trong để một tổ chức vận hành bền vững trong môi trường cạnh tranh. Vì vậy, công tác đào tạo phải được tổ chức và có kế hoạch. Phát triển nguồn nhân lực là một chuỗi hoạt động học tập có tổ chức được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của nhân viên.
Có thể thấy nguồn nhân lực được nhìn nhận theo hai phương diện: số lượng và chất lượng. Về góc độ phát triển kinh tế : NNL là một bộ phận có thể sử dụng được 2 của dân số trong một nhóm tuổi cụ thể. Nguồn nhân lực được thể hiện theo hai cách: về mặt định lượng, là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Chính phủ, số giờ làm việc có thể huy động được nhờ học tập về chất lượng, sức khỏe kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức và trình độ của NLĐ. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động cụ thể đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động cũng được hiểu theo hai nghĩa: số lượng và chất lượng. Như vậy, theo khái niệm này, một số người được coi là nguồn nhân lực nhưng không thuộc lực lượng lao động, đó là: những người thất nghiệp nhưng không tích cực tìm kiếm việc, tức là những người không có nhu cầu tìm việc, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang trong quá trình học tập chính quy. Tóm lại, có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, theo tổng quan của tác giả, nguồn nhân lực là nguồn nhân lực trong xã hội có thể được thống kê về số lượng và chất lượng để phản ánh khả năng lao động của xã hội. “Nguồn nhân lực là tổng hợp các chỉ số phát triển con người mà mọi người có được nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội và nỗ lực của một người, là tổng số người và phẩm chất của con người, là tổng sức mạnh thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm sống, tính cách, đạo đức, lý tưởng và văn hóa chất lượng, năng lực chuyên môn và động lực nghề nghiệp mà con người và xã hội có thể huy động vào đời sống lao động sáng tạo cho xã hội phát triển và tiến bộ.
Qua đây chúng ta có thể hiểu, Nguồn nhân lực là tổng số lượng và chất lượng con người với tập hợp các chỉ tiêu về trí tuệ lao động, thể lực và những phẩm chất về đạo đức và tinh thần tạo nên năng lực mà các cá nhân và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực Do các cách tiếp cận khác nhau nên cách hiểu về đào tạo nguồn nhân lực cũng khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất của giáo trình về Quản lý nguồn nhân lực trong 3 Doanh nghiệp của Lê Quân (2014), Một chuỗi các hoạt động học tập có tổ chức được diễn ra trong khoảng thời gian nhất định nhằm mang lại những thay đổi về hành vi của NLĐ. Phát triển và đào tạo nhân lực cũng làm tăng số lượng và cải thiện chất lượng của nhân viên, giúp tổ chức có cơ cấu NLĐ phù hợp, từ đó cải thiện hiệu quả lao động, dẫn đến một tổ chức ngày càng phát triển và nâng cao hiệu quả công việc tổ chức.
Theo Michael Armstrong “Đào tạo là sự phát triển có hệ thống về kiến thức, kỹ năng và thái độ được yêu cầu bởi một cá nhân để thực hiện đầy đủ một nhiệm vụ nhất định hoặc công việc”. (Nguồn: A Handbook of Human Resource Management Practice, Kogan Page, Sth Ed.,2001) Đào tạo nhân sự được hiểu là một quá trình giáo dục, hướng dẫn, đề bạt nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động để họ thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả hơn. Đây là một quá trình học tập cung cấp cho nhân viên nhiều thông tin hơn về công việc của họ. Đây là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng của nhân viên để thực hiện nhiệm vụ công việc hiệu quả hơn và thích ứng với những thay đổi trong cơ cấu tổ chức và bản thân công.
Đào tạo bao gồm các hoạt động cải thiện kỹ năng hoặc khả năng của một cá nhân cho công việc hiện tại của họ. Đào tạo giúp các cá nhân phát triển kiến thức, kỹ năng và tay nghề, đồng thời tạo tiền đề nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Trong đào tạo cá nhân, đào tạo NNL có những phương pháp tương tự được sử dụng để tác động đến quá trình học tập nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, việc đào tạo hiện đang được định hướng, tập trung vào công việc hiện tại của nhân viên và giúp họ nhanh chóng có được kiến thức và kỹ năng để thực hiện tốt công việc hiện tại của họ.
Phát triển nguồn nhân lực tập trung vào công việc trong tương lai của công ty. Khi người mới được đề bạt lên một vị trí mới, họ cần phải có những kiến thức và kỹ năng mới phù hợp với yêu cầu của vị trí đó. Phát triển nguồn nhân lực giúp các cá nhân chuẩn bị kiến thức và kỹ năng họ cần. 4 Hoạt động đào tạo là một chuỗi hành động diễn ra trong một khoảng thời gian xác định của tổ chức với mục đích là có thể giúp người lao động nắm rõ hơn các nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng tại vị trí công việc đảm nhiệm.
Bên cạnh đó, bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng còn thiếu để thực hiện công việc đạt được kết quả tốt nhất. Hoạt động đào tạo nhân lực chính là hướng vào phục vụ cho những yêu cầu của công việc ngắn hạn và đa phần mang tính chất nền tảng. Chất lượng đào tạo theo Cheng và Tam (1997) định nghĩa chất lượng đào tạo là đặc trưng của một loạt yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống giáo dục đào tạo mà nó cung cấp các dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu người học và nhu cầu của xã hội về đào tạo. Chất lượng đào tạo là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định.
Đang (2011) lại cho rằng, chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường học. Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mạng, các mục đích, đặc điểm của chương trình đào tạo. Mục tiêu phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ và các nguồn lực của nhà trường nhưng đồng thời mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội đất nước.