phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng: 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHI P Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ NỘI BÀI Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ NỘI BÀI TRONG GIAI ĐOẠN 2023-2030. CƠ SỞ L LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHI P 1. Tổng quan về nguồn nhân ực 1. Khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu + Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực đƣợc hiểu là sức lực của con ngƣời.
Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực. Khi nguồn lực này đủ lớn, con ngƣời sẽ có đủ điều kiện để tham gia vào hoạt động lao động và sản xuất; sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. o đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc. Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc” (Nguyễn Sinh Cúc, 2014, tr.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế, “theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. o đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động” Võ Quế, 2020. NNL đƣợc biểu hiện trên hai mặt là số lƣợng và chất lƣợng, tƣơng ứng với tổng số ngƣời trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nƣớc và sức khoẻ, trình độ chuyên môn của họ.
NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, đƣợc vận dụng để 7 sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Nhƣ vậy, NNL của một tổ chức/doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nh m đạt đƣợc các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức đó đặt ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào NNL cũng là nguồn lao động. Trƣờng hợp những ngƣời trong độ tuổi lao động quy định nhƣng đang đi học hoặc những ngƣời không có việc làm đồng thời không có nhu cầu tìm việc làm, thì không đƣợc xem là nguồn lao động.
t tr ển n uồn n n lự Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển NNL. “Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con ngƣời nh m thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Có quan điểm cho r ng: phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng đƣợc những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Một số tác giả khác lại quan niệm: phát triển là quá trình nâng cao năng lực của con ngƣời về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội” Trần Ngọc Sơn, 2016.
Nhƣ vậy, phát triển NNL của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lƣợng và chất lƣợng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL. Nói một cách khái quát nhất, phát triển NNL chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con ngƣời vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con ngƣời. Nhƣ vậy, phát triển NNL với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lƣợng NNL và khía cạnh xã hội của NNL của một quốc gia. Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế.
ởi vậy, việc phát triển con ngƣời, phát 8 triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con ngƣời là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vƣợng của mọi quốc gia. Đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ có tính chiến lƣợc, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. NNLCLC là khái niệm để chỉ một con ngƣời, một NLĐ cụ thể có trình độ lành nghề về chuyên môn, kỹ thuật ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.
Giữa chất lƣợng NNL và NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lƣợng NNL là nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNLCLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lƣợng nhất. ởi vậy, khi bàn về NNLCLC không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lƣợng NNL nói chung của một đất nƣớc. NNLCLC là NNL phải đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc , đó là: có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc.
Nhƣ vậy, NNLCLC phải là những con ngƣời phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng. NNLCLC có thể không cần đông về số lƣợng, nhƣng phải thực chất. Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL, đặc biệt là NNLCLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trƣởng gần đây chỉ ra r ng, một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lƣợng NNL.
Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng kinh tế bền vững chính là những con ngƣời, đặc biệt là NNLCLC, tức là những con ngƣời đƣợc đầu tƣ phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nh m trở thành “nguồn vốn - vốn con ngƣời, vốn nhân lực”. ởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNLCLC, có môi trƣờng pháp lý thuận lợi cho đầu tƣ, có môi trƣờng chính trị - xã hội ổn định. 9 + An ninh phi tru ền t ốn An ninh phi truyền thống là một khái niệm tƣơng đối mới trong ngành khoa học nghiên cứu an ninh và nghiên cứu quan hệ quốc tế trên thế giới, phản ánh nhận thức mới về an ninh quốc gia và thay đổi căn bản theo hƣớng phi quân sự của các mối đe dọa đối với an ninh quốc gia sau Chiến tranh Lạnh. Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung cho đến nay vẫn chƣa đƣa ra đƣợc định nghĩa chính thức về an ninh phi truyền thống.
Tuy còn sự khác biệt giữa các quan niệm về an ninh phi truyền thống nhƣng các học giả cơ bản thống nhất nhận định: An n n p tru ền t ốn k n p ả là n n n qu n sự, mà là n n n tổn ợp, b o ồm mố e dọ ến n n n on n ườ và xã ộ một toàn d ện ả về ín trị, k n tế, văn ó , xã ộ , quố p òn - n n n và m trườn s n thái. Tổn ợp từ n ều n n uk n u, nộ dun nnn p tru ền t ốn b o ồm t ếu ụt tà n u n, bùn p t d n số, m trườn s n t su ảm, xun ột t n o, sắ tộ , bạo loạn và l k tron nướ , k n oản k n tế và tà ín t ền tệ, n ĩ k n bố, t n tặ , p ổ b ến vũ k í ết n ườ àn loạt, n èo ó , tộ p ạm m tú , tộ p ạm xu n quố , tộ p ạm mớ nổ , tộ p ạm mạn , d d n, tị nạn k n tế, dị bện , k n tế n m, tộ p ạm rử t ền. Các tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam còn có nhiều hạn chế trong nhận thức về an toàn, an ninh và quản trị an ninh phi truyền thống. Trong đó, nhân tố con ngƣời có yếu tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh phi truyền thống tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Cụ thể, tại doanh nghiệp có thể thấy rõ quản trị an ninh phi truyền thống có một vai trò đặc biệt quan trọng nếu không nói là vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển bền vững của một doanh nghiệp.