Chương 1: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về năng lực sử dụng công nghệ thông tin của nhân viên trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực sử dụng công nghệ thông tin của nhân viên của Công ty Cổ phần Đầu tư Du lịch Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin của nhân viên của Công ty Cổ phần Đầu tư Du lịch Hà Nội. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến năng lực sử dụng công nghệ thông tin của nhân viên trong doanh nghiệp 1. Năng lực và khung năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm về năng lực đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra với nhiều quan điểm dựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau. Boam và Sparrow (1992) định nghĩa năng lực là “một tập hợp các biểu hiện hành vi gắn với một vị trí công việc để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của vị trí đó”; Lyle M., (1993) định nghĩa “năng lực là khả năng một cá nhân thực thi được những yêu cầu kỹ năng bắt buộc đối với một công việc cụ thể”.
Các nhóm tác giả nêu trên có cùng chung quan điểm nhấn mạnh vào những đặc tính của cá nhân thể hiện khi hoàn thành một công việc với sự vượt trội về kết quả, cùng thống nhất năng lực là tập hợp của kiến thức, kỹ năng, thái độ của một cá nhân được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc mà cá nhân đó đảm nhiệm. Theo Dubois (1993), năng lực “Là khả năng áp dụng hoặc sử dụng kiến thức, kỹ năng, khả năng, hành vi và đặc điểm cá nhân để thực hiện thành công các nhiệm vụ quan trọng, chức năng cụ thể hoặc hoạt động trong một vai trò hoặc vị trí nhất định”. Đồng tình với quan điểm này, Parry (1996) cũng cho rằng “Năng lực là một cụm các kiến thức, thái độ và kỹ năng có ảnh hưởng đến phần lớn công việc của một người; có tương quan với hiệu quả thực hiện công việc; có thể được đo lường dựa trên các tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi; và có thể được cải thiện qua đào tạo và phát triển”. Theo Lucia và Lepsinger (1999), “Năng lực là yếu tố dự báo quan trọng về hiệu suất và thành công của nhân viên, có mức độ quan trọng tương tự với kết quả học tập và kiến thức họ đã được đánh giá bằng điểm số trong nhà trường”.
Dưới góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu về tâm lý, giáo dục, định nghĩa về năng lực cũng được trình bày khá đa dạng. 9 Theo quan điểm triết học của John Erpenbeck (2001): “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, xếp đặt như là các khả năng, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí ”. Nhà giáo dục học F.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Theo quan điểm tâm lý học, Denys Tremblay (2002): “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.
Theo các nhà tâm lý, năng lực là tổng hợp các đặc điểm và thuộc tính tâm lý cá nhân, phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, khi xem xét khái niệm về năng lực, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm về năng lực dưới góc độ năng lực của cá nhân và năng lực của tổ chức.” “Ở Việt Nam, năng lực cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”.
Theo Viện Ngôn ngữ học (2010), “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Như vậy, phần lớn nghiên cứu đều cho rằng năng lực là một đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính của cá nhân. Tuy nhiên, dù xác định là đặc điểm, phẩm chất cá nhân hay là khả năng của nhân viên thì đều thống nhất năng lực của cá nhân là những yếu tố nền tảng giúp cá nhân đạt được những kết quả nhất định trong các công việc mà họ được giao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng, năng lực con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do lao động và rèn luyện mà có.
Có thể nói năng lực là phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng của cá nhân trong việc đạt được một kết quả nào đó trong công việc. Đặc biệt năng lực là yếu tố gắn liền với hoạt động, chỉ được bộc lộ thông qua hành động và đảm bảo kết quả của hành động đó. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tiếp cận khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là tập hợp của kiến thức, 10 kỹ năng, thái độ của một cá nhân được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc mà cá nhân đó đảm nhiệm”. Khái niệm khung năng lực “Khung năng lực (KNL) đã xuất hiện cách đây hơn 60 năm (Derue, 2011) và được sử dụng để đánh giá chính thức về những kỹ năng và sàng lọc quân nhân trong giai đoạn thế chiến II.
Sự thành công của quân đội trong việc huấn luyện quân nhân đã khiến cho các tổ chức và các nhà tâm lý học có một khuôn mẫu để áp dụng đúng quy trình đó vào môi trường phi quân sự. KNL trong môi trường phi quân sự đã tồn tại từ những năm 1970 với mô hình đầu tiên được xây dựng bởi David McClelland. Những nghiên cứu tiếp theo về KNL được mở rộng sang lĩnh vực quản trị nhân sự trong nghiên cứu của các tác giả Boyatzis (1982), Spencer (1993) và Ulrich (1997). McClelland (1973), Boyatzis (1982) và Spencer (1993) là ba nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất về KNL, đều sử dụng các tiêu chí tham chiếu khi liên kết hành vi, kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân với các thang đo cụ thể khi mô tả về KNL.
KNL theo nghiên cứu của Lucia và Lepsinger (1999) đó là “Khung năng lực là việc mô tả sự kết hợp đặc biệt các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cần thiết để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ trong tổ chức và được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để lựa chọn, đào tạo và phát triển, đánh giá nhân viên và xây dựng kế hoạch nguồn nhân lực”. và Rothwell (2004), “Khung năng lực là tập hợp các năng lực cần thiết để một cá nhân hay tổ chức thực thi được các nhiệm vụ của mình đảm bảo hiệu quả đã đề ra”. KNL này sẽ được cụ thể hóa theo từng mức độ thành thạo của năng lực và là cơ sở quan trọng để tiến hành đánh giá năng lực phục vụ cho các hoạt động phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức theo từng giai đoạn phát triển. Dựa vào KNL, các tổ chức có thể xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng, đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn năng lực, xây dựng kế hoạch đào tạo đạt chuẩn.
Như vậy, KNL là một tập hợp tất cả các năng lực cần có của nhân viên trong một tổ chức được nhóm lại thành các cấu hình phù hợp với công việc cá nhân hoặc vai trò tổ chức đó. Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay. Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa 11 học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị - xã hội khác. Theo Daintith, John (2009), “Công nghệ thông tin là một thuật ngữ bao gồm phần mềm, mạng lưới internet, hệ thống máy tính sử dụng cho việc phân phối và xử lý dữ liệu, trao đổi, lưu trữ và sử dụng thông tin.” Một cách dễ hiểu hơn, CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, xử lý, truyền dẫn thông tin, lưu trữ, khai thác thông tin.
Tại Việt Nam, theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 08 năm 1993 về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90 nêu: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Trong luật CNTT (2006), thuật ngữ “Công nghệ thông tin được hiểu là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. Cũng theo luật CNTT, thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số. Do đó việc triển khai ứng dụng CNTT vừa là khoa học, vừa là công nghệ, vừa là kĩ thuật, bao trùm cả tin học, viễn thông và tự động hóa.
Nguyễn Thị Thu Thủy (2020) đã định nghĩa “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề án, học viên lựa chọn tiếp cận khái niệm về CNTT theo luật CNTT (2006): “Công nghệ thông tin được hiểu là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số”.