phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc bố cục làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về công bố thông tin kế toán và yêu cầu của nhà đầu tƣ đối với thông tin kế toán công bố trên thị trƣờng chứng khoán. Chƣơng 2: Thực trạng công bố thông tin kế toán và sử dụng thông tin kế toán công bố đối với nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công bố thông tin kế toán đáp ứng nhu cầu nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ YÊU CẦU CỦA NHÀ ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI THÔNG TIN KẾ TOÁN CÔNG BỐ TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề chung về công bố thông tin kế toán trên thị trƣờng chứng khoán 1.1 Vai trò của thông tin kế toán Nhƣ ta đã biết, kế toán là nghệ thuật của việc phân loại, ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại một tổ chức theo những cách thức riêng và góp phần lý giải kết quả của những nghiệp vụ đó.
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế - tài chính cho các đối tƣợng liên quan nhằm đánh giá về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức. Do đó, nếu những thông tin kinh tế - tài chính đƣợc cung cấp này càng hữu ích cho các đối tƣợng sử dụng thông tin trong quá trình ra quyết định thì vai trò của kế toán sẽ càng đƣợc nâng cao và đƣợc coi trọng. Với sự phát triển vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa kinh tế nhanh chóng, kế toán bây giờ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin thể hiện mối quan hệ vật chất – pháp lý về tình hình, kết quả hoạt động của một tổ chức mà nó còn phải phục vụ tốt hơn cho công tác dự báo, tổ chức, điều hành, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ tổ chức. Chính vì thế, đã tạo ra sự tách rời kế toán thành kế toán tài chính và kế toán quản trị nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của những đối tƣợng sử dụng thông tin khác nhau.
Nếu nhƣ kế toán tài chính chủ yếu hƣớng sự quan tâm của mình đến các đối tƣợng sử dụng thông tin ở bên ngoài tổ chức thì ngƣợc lại kế toán quản trị lại hƣớng đến việc đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhà quản lý trong nội bộ của tổ chức. Tuy tách rời thành hai hệ thống kế toán khác nhau nhƣng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ với nhau trong quá trình cung cấp thông tin kinh tế - tài chính cho các đối tƣợng sử dụng thông tin. Để cuối cùng, điều mà cả kế toán tài chính và kế toán quản trị đều muốn hƣớng tới chính là cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời về tình hình hoạt động của tổ chức cho các đối tƣợng sử dụng thông tin 6 khác nhau trong quá trình sử dụng thông tin và ra quyết định của họ, từ đó nâng cao hơn nữa vai trò của nghề kế toán trong thế giới tài chính.2 Sự cần thiết của vấn đề công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán 1.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán – Kết quả tất yếu trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thị trường Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn trong xã hội tăng lên và trở nên đa dạng, phong phú; ngƣời thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tƣ, ngƣời thì lại có vốn nhàn rỗi, muốn cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết.
Tuy nhiên sau đó, khi nhu cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không còn đáp ứng đƣợc nhu cầu nữa. Lúc này, đòi hỏi cần phải có một thị trƣờng chung cho cung và cầu về vốn, từ đó thị trƣờng tài chính ra đời. Thông qua thị trƣờng tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi đƣợc huy động vào tiêu dùng, đầu tƣ, tạo đòn bẩy cho việc phát triển kinh tế. Ban đầu, nhu cầu vốn cũng nhƣ tiết kiệm trong dân chƣa cao và nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tƣ phát triển ngày càng cao. Chính vì vậy, thị trƣờng vốn đã ra đời để đáp ứng các nhu cầu này. Để huy động đƣợc vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán. Khi một bộ phận các chứng khoán có giá trị nhất định đƣợc phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán chứng khoán.
Từ đó, dẫn đến sự ra đời của thị trường chứng khoán với tƣ cách là một bộ phận của thị trƣờng vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các loại.2Sự cần thiết của vấn đề công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Chức năng quan trọng nhất của TTCK là nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trƣởng kinh tế hay cho các dự án đầu tƣ thông qua việc phát hành chứng khoán (thị trƣờng sơ cấp) và trao đổi chứng 7 khoán (thị trƣờng thứ cấp). Chính sự phát hành và trao đổi mua bán chứng khoán đã tạo ra một môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng, hình thành nên một thị trƣờng hàng hóa đặc biệt, cao cấp và vƣợt trội hơn so với các thị trƣờng truyền thống khác (thị trƣờng hàng hóa, dịch vụ; thị trƣờng lao động, …). Hàng hóa lƣu thông và mua bán trên thị trƣờng là chứng khoán các loại (cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác có thời hạn trên một năm). Mọi thành viên trong xã hội đều có thể tự do tham gia vào thị trƣờng từ các cá nhân đầu tƣ nhỏ lẻ đến các NĐT có quy mô, tổ chức.
Giá cả trên TTCK cũng đƣợc hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu. Để TTCK tồn tại và phát triển nhanh, bền vững thì bảo đảm về chất lƣợng hàng hóa là nhân tố quan trọng hàng đầu, chất lƣợng của hàng hóa trên TTCK ở đây chính là hiệu quả kinh tế hiện tại và giá trị ƣớc tính trong tƣơng lai của doanh nghiệp. Vì vậy, việc công khai và minh bạch hóa tình hình tài chính của các công ty đại chúng, đặc biệt là các CTNY là một yêu cầu tất yếu khách quan nhằm đảm bảo lợi ích và quyền lợi của các NĐT trên TTCK. Để nắm rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp nhƣ: tổng tài sản, các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn mà doanh nghiệp phải đối mặt, tình hình sản xuất và kinh doanh trong kỳ, khoản tiền thực thu và thực chi trong kỳ… thì NĐT căn cứ chủ yếu vào các TTKT thể hiện chủ yếu trong hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp.
Chính hệ thống TTKT này là cơ sở dữ liệu để NĐT có thể đƣa ra những quyết định đầu tƣ của mình. Vì vậy, vấn đề công bố TTKT trên TTCK là hết sức cần thiết nhằm tránh tình trạng bất cân xứng trong việc tiếp nhận thông tin của các NĐT trên TTCK, ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định của họ và từ đó bảo đảm môi trƣờng đầu tƣ lành mạnh cho các NĐT, giúp TTCK hoạt động hiệu quả hơn. Mặt khác, công bố TTKT trên TTCK cũng góp phần giúp cho các cơ quan chức năng trong quá trình đánh giá giá trị của từng công ty đại chúng, đồng thời đánh giá tình hình chung của nền kinh tế cũng nhƣ tình hình của từng ngành nghề, lĩnh vực khác nhau vì các công ty đại chúng, đặc biệt là các CTNY đều là những công ty lớn, hàng đầu từ những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau.3 Hệ thống báo cáo tài chính – Thông tin kế toán quan trọng trên thị trường chứng khoán Báo cáo kế toán là sản phẩm cao nhất của quá trình thực hiện kế toán, do đó hệ thống BCTC cung cấp những TTKT quan trọng trên TTCK. Bảng cân đối kế toán Bảng CĐKT cho biết tình trạng tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty tại một thời điểm (ngày) cụ thể, thƣờng là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm.
Đây là một cách thức xem xét một công ty dƣới dạng một khối vốn (tài sản) đƣợc bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông). Do đó, tổng tài sản phải bằng với tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Thông tin về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trên Bảng CĐKT trƣớc hết giúp cho NĐT nắm bắt đƣợc tình hình sức khỏe của doanh nghiệp, đánh giá đƣợc khả năng thanh toán ngắn hạn cũng nhƣ dài hạn và năng lực của doanh nghiệp trong việc thích ứng với những thay đổi trong môi trƣờng kinh doanh. Sau đó, nó cũng giúp cho việc xem xét và đánh giá khả năng tạo ra tiền trong tƣơng lai của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu trong bảng CĐKT đƣợc biểu hiện dƣới hình thái giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp đƣợc toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dƣới các hình thái khác nhau (cả vật chất và tiền tệ, cả vô hình lẫn hữu hình). Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo KQHĐKD thể hiện doanh thu và chi phí trong từng kỳ kế toán cụ thể nhƣ tháng, quý hay năm. Báo cáo này là báo cáo riêng rẽ quan trọng phản ánh tổng hợp tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của thực thể kinh doanh theo từng loại trong một kỳ kế toán. Nó cho biết khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, giúp NĐT đánh giá khả năng tăng trƣởng của các nguồn lực kinh tế trong tƣơng lai cũng nhƣ khả năng tạo ra dòng tiền từ các nguồn lực hiện có.
Hay nói một cách khác, báo cáo KQHĐKD đƣợc sử dụng nhƣ một bảng hƣớng dẫn để xem xét doanh nghiệp hoạt động nhƣ thế nào trong tƣơng lai. Không giống nhƣ Bảng CĐKT đƣợc xem nhƣ là một tấm ảnh chụp (tĩnh), cho 9 biết tình trạng tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Báo cáo KQHĐKD lại đƣợc coi nhƣ là một bộ phim (động) phản ánh kết quả của các hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó.