CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm Theo định nghĩa của Mishkin (2012), TTCK là nơi mà lợi nhuận kỳ vọng của các tổ chức niêm yết (cổ phiếu) được giao dịch, là thị trường tài chính phổ biến ở hầu hết các quốc gia, đó là lý do vì sao TTCK còn được gọi ngắn gọn là “thị trường”. Theo tác giả Nguyễn Văn Hà (2007), TTCK là nơi giao dịch chứng khoán, hiểu theo nghĩa cứ xuất hiện giao dịch mua bán chứng khoán thì thuộc hoạt động của TTCK. Do đó, tồn tại TTCK có tổ chức hoặc không tổ chức, tập trung hoặc phi tập trung. Tóm lại, TTCK cũng như tất cả mọi thị trường, nó biểu thị mối quan hệ cung – cầu về vốn giữa những người có vốn nhàn rỗi (NDT) và những người cần vốn (DN, tổ chức, tập đoàn).
Hàng hóa trên TTCK là quyền sở hữu chứng khoán, giá là giá của chứng khoán do cung cầu quyết định theo quy luật thị trường.2 Phân loại chứng khoán Luật Chứng khoán 2019 có giải thích chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; Chứng khoán phái sinh; Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.3 Chức năng và nguyên tắc hoạt động TTCK được tạo lập và phát triển có ý nghĩa rất quan trọng đối với tổng thể của một nền kinh tế như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, TTCK là “phong vũ biểu” của nền kinh tế; là bộ phận quan trọng của kinh tế thị trường3. Đối với các quốc 3 Xem “Thủ tướng: Thị trường chứng khoán là “phong vũ biểu” của nền kinh tế”, 2020, Báo Thanh tra, từ <thanhtra. 12 gia có nền kinh tế thị trường phát triển, TTCK tồn tại để thực hiện các chức năng chủ yếu sau (Huyền, 2011): + Kênh huy động vốn nhanh chóng và dễ dàng cho nền kinh tế. + Cung cấp cơ hội đầu tư cho các NDT.
+ Sự vận hành của TTCK tạo thanh khoản cho các chứng khoán. + Giá và các thông tin trên TTCK phản ánh giá trị DN và tình hình kinh tế. + Là công cụ hỗ trợ nhà nước thực hiện hiệu quả vai trò điều tiết vĩ mô. Tất cả chủ thể tham gia TTCK, không phân biệt lớn nhỏ hay quốc tịch, thành phần kinh tế đều phải tuân thủ các nguyên tắc: (i) Nguyên tắc cạnh tranh: Giá chứng khoán do cung – cầu quyết định.
Người mua và người bán cạnh tranh với nhau về giá để mua, bán chứng khoán. (ii) Nguyên tắc trung gian: Người mua và người bán không biết nhau, không giao dịch trực tiếp với nhau, các giao dịch thông qua trung gian. (iii) Nguyên tắc công khai: NDT phải được đảm bảo có thông tin đầy đủ và chính xác về các loại chứng khoán mà mình giao dịch và thông tin về thị trường. (iv) Nguyên tắc tập trung: Chứng khoán phải được giao dịch một cách có tổ chức và theo luật định.4 Các thành phần tham gia thị trường Tham gia TTCK có 6 thành phần chính: Các DN, các NDT riêng lẻ, các tổ chức tài chính, nhà môi giới kinh doanh chứng khoán, người tổ chức thị trường và Nhà nước (Hà, 2007).
Các cá nhân và tổ chức này có thể chia thành các nhóm sau: + Nhóm đầu tư: Gồm NDT cá nhân và NDT tổ chức. + Nhóm phát hành: Là các đối tượng huy động vốn thông qua phát hành và bán chứng khoán. 13 + Nhóm trung gian: Gồm các cá nhân trung gian và trung gian tổ chức (CTCK, quỹ đầu tư, trung gian tài chính). + Nhóm tổ chức hữu quan: UBCK Nhà nước, SGDCK, Công ty xếp hạng tín nhiệm cho DN niêm yết,.2 Các loại thông tin trên thị trường chứng khoán Để có thể đưa ra các quyết định đầu tư liên quan đến chứng khoán, các chủ thể phải theo dõi nhiều loại thông tin khác nhau liên quan đến tình hình kinh tế, thị trường tài chính, chứng khoán.1 Thông tin từ tổ chức niêm yết Tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch là tổ chức có chứng khoán phát hành được niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán (Luật Chứng khoán, 2019).
Giá cổ phiếu của một công ty niêm yết ngoài hình thành do quy luật cung cầu, còn được quyết định bởi tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty đó. Vì vậy, việc công bố thông tin của các công ty này sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán và sự phát triển chung của TTCK. Để đảm bảo các nguyên tắc của TTCK và quyền lợi của các NDT, các tổ chức niêm yết phải minh bạch trong vấn đề công bố thông tin. Các thông tin liên quan đến công ty phát hành bao gồm: Thông tin trên Bản cáo bạch, thông tin định kỳ, thông tin bất thường, thông tin theo yêu cầu.2 Thông tin từ Sở giao dịch chứng khoán SGDCK Việt Nam là DN được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp, do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
Nội dung thông tin do SGDCK công bố bao gồm: Thông tin về diễn biến thị trường, thông tin về hoạt động kinh doanh của các DN niêm yết, thông tin từ nhà quản lý thị trường,.3 Thông tin từ các tổ chức kinh doanh dịch vụ liên quan Các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán cũng cung cấp các thông tin diễn biến thị trường, tình hình hoạt động của công ty niêm yết,. Ngoài ra, các tổ chức này còn có các thông tin liên quan đến nghiệp vụ của mình như số tài khoản giao dịch, tỷ lệ ký quỹ, các hoạt động bảo lãnh, phát hành chứng khoán,.4 Thông tin từ thị trường, tình hình kinh tế trong và ngoài nước Đây là nhóm thông tin đại chúng, phổ biến hàng ngày trên các bản tin thời sự, các trang thông tin điện tử liên quan đến tình hình kinh tế – xã hội. Các sự kiện có thể tác động đến nền kinh tế cũng như TTCK là: chiến tranh, dịch bệnh, hợp tác hoặc cấm vận quốc tế, sự biến động của các thị trường lớn,.3 Thất bại thị trường và hiện tượng bất cân xứng thông tin 1.1 Thất bại thị trường – Khuyết tật của kinh tế thị trường Phân bổ nguồn lực hiệu quả là yêu cầu sống còn của mọi nền kinh tế. Sự phân bố khả thi phụ thuộc vào công nghệ và nguồn lực mà nền kinh tế sẵn có.
Những người khác nhau sẽ có những đánh giá khác nhau về hiệu quả và công bằng, chuẩn mức chung là hiệu quả Pareto. Một sự phân bố là hiệu quả Pareto, đối với một tập hợp các sở thích của người tiêu dùng, các nguồn lực và công nghệ, nếu không có khả năng dịch chuyển đến một sự phân bố khác có thể làm cho một số người giàu lên mà không có ai nghèo đi. Trong điều kiện tất cả các thị trường là canh trạnh hoàn hảo thì điểm cân bằng cung – cầu sẽ đạt hiệu quả Pareto (Stiglitz & Rosengard, 2015). Trong trường hợp không có sự biến dạng nào thì cân bằng cạnh tranh là trạng thái hiệu quả.
Begg và cộng sự (2014) dùng thuật ngữ “thất bại thị trường” để ám chỉ những trường hợp mà cân bằng thị trường là không hiệu quả. Chính những biến dạng này ngăn cản “bàn tay vô hình” phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Theo đó, các nguyên nhân dẫn đến sự thất bại thị trường bao gồm: Cạnh tranh không hoàn hảo, Hàng hóa công, Ngoại tác và BCXTT. Để giải quyết những khuyết tật này của cơ chế thị trường, các nền kinh tế hiện đại ngày nay là sự hỗn hợp giữa “bàn tay vô hình” và 15 “bàn tay hữu hình”.
Vận hành nền kinh tế mà chỉ thông qua cơ chế thị trường hay sự điều tiết của Nhà nước cũng giống như vỗ tay bằng một bàn tay (Samuelson, 1915).2 Hiện tượng bất cân xứng thông tin trong kinh tế học a) Sơ lược về bất cân xứng thông tin Lý thuyết BCXTT được trình bày lần đầu tiên trong tác phẩm “The market for lemons: Quality uncertainty and the market mechanism” của Akerlof (1970). TTBCX là tình trạng trong một giao dịch thị trường, một bên có thông tin nhiều hơn và tốt hơn bên còn lại. Sự chênh lệch về thông tin tạo ra sức ép làm cho những giao dịch bị méo mó. Lý thuyết về BCXTT dù mới xuất hiện từ thập kỷ 70 nhưng đã khẳng định vị thế khi mà 3 nhà kinh tế học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Micheal Spence và Joseph Stiglitz cùng nhận giải Nobel kinh tế năm 2001.
b) Tính phi hiệu quả của thị trường khi xuất hiện thông tin bất cân xứng Mô hình TTBCX giả định ít nhất một bên trong giao dịch sở hữu thông tin tốt hơn (những) bên còn lại hoặc trường hợp một bên có khả năng tác động, phản ứng hay đề ra những điều khoản thay đổi các thỏa thuận giao dịch ban đầu trong khi (những) bên còn lại không có khả năng đó. Akerlof cho rằng tình trạng BCXTT sẽ dẫn đến việc hình thành một thị trường nhiều hàng “xấu” và những hàng hóa tốt sẽ bị loại khỏi thị trường. TTBCX biểu hiện ở nhiều thị trường: lao động, ngân hàng, bất động sản, bảo hiểm, chứng khoán, đồ cũ,. Minh họa tác động kinh tế của BCXTT Nguồn: Tác giả vẽ bằng phần mềm GeoGebra Trong Hình 2, nền kinh tế ban đầu cân bằng tại điểm E0 với mức giá P0 và sản lượng là Q0.
Nếu xuất hiện TTBCX tác động lên phía cầu làm đường cầu dịch chuyển sang trái, điểm cân bằng mới sẽ là E1. Tại E1, mức giá là P1 < P0 và sản lượng là Q1 < Q0. So với trạng thái cân bằng cũ, tổng thặng dư xã hội mất đi phần diện tích là tam giác E0E1A (tổn thất vô ích). Phân tích tương tự, nếu TTBCX làm đường cầu dịch chuyển sang phải thì tổn thất phúc lợi xã hội sẽ là diện tích tam giác E0E2B.
Tóm lại, BCXTT trong cả hai trường hợp này đều dẫn đến tiêu dùng không đạt mức tối ưu của xã hội, gây ra tổn thất phúc lợi cho nền kinh tế. c) Hệ lụy của bất cân xứng thông tin TTBCX là một thất bại của thị trường và nó gây ra những hệ lụy sau: + Lựa chọn ngược (Adverse Selection – AS): Khi các bên trong một giao dịch cố ý che giấu thông tin, người mua không có thông tin chính xác, đầy đủ nên đưa ra giá sẵn lòng trả thấp hơn giá trị thực của hàng hóa. Vì vậy, người bán cũng mất đi động lực sản xuất hàng hóa tốt và chỉ cung cấp những sản phẩm có chất lượng dưới mức trung bình.