CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm tới tay người tiêu dùng. Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 1980 và trở nên phổ biến từ những năm 1990. Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng: Bảng 1-1: Các định nghĩa về chuỗi cung ứng Nghiên cứu Định nghĩa Ganeshan, Ran and Terry Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản P.Harrison (1995), An xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu introduction to supply chain mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán management thành phẩm và thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng. Lambert, Stock and Ellram Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa (1998), Fundaments of Logistics sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Management, Boston MA: Iwin/McGraw-Hill, c.14 Chopra Sunil and Pter Meindl Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan (2001), Supplychain trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách Management: strategy, planning hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và and operation, Upper Saddle nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán Riverm NI: Prentice Hall c.1 lẻ và bản thân khách hàng. (nguồn: tác giả tổng hợp) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các định nghĩa về chuỗi cung ứng ngày càng mở rộng, từ hoạt động sản xuất đến sự liên kết với các công ty và tổng thể hoạt động liên quan đến sản xuất, vận chuyển và phân phối: (i) hoạt động cung ứng: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất, (ii) sản xuất kinh doanh: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng, sẵn sàng chuyển giao đến khách hàng, (iii) và phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả. Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (Hồ Tiến Dũng, 2012).
Định nghĩa mới bổ sung một yếu tố quan trọng trong chuỗi cung ứng hiện đại là dòng thông tin xuyên suốt qua tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng. Theo Hồ Tiến Dũng (2012), mô hình của chuỗi cung ứng điển hình gồm có 5 thành phần chính: các nhà cung cấp, các nhà máy, các nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng. Các thành phần này thiết lập các mối liên kết chặt chẽ với nhau dựa trên hệ thống thông tin chung, chia sẻ thuận tiện và đáp ứng nhanh. Hệ thống thông tin Các Các Các nhà Nhà Khách nhà nhà cung bán lẻ hàng máy kho cấp Hình 1-1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình (nguồn: Hồ Tiến Dũng, 2012) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân biệt chuỗi cung ứng với các hoạt động liên quan Kênh phân phối là một thuật ngữ thường được sử dụng trong marketing, là quá trình từ sản xuất đến khách hàng thông qua nhà phân phối.
Nói đến kênh phân phối là nói đến hệ thống bán hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nó chỉ là một bộ phận của chuỗi cung ứng từ nhà sản xuất đến khách hàng. Quản trị nhu cầu là quản lý nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ. Nhu cầu có thể được quản lý thông qua cơ chế như là sản phẩm, giá, khuyến mãi và phân phối, nhìn chung đây là những nhiệm vụ chủ yếu thuộc về marketing.
Quản trị nhu cầu là một bộ phận trong quản trị chuỗi cung ứng và cần thiết cho việc kiểm soát các mức nhu cầu của hệ thống. Quản trị nhu cầu có vai trò quan trọng như quản trị luồng nguyên vật liệu và dịch vụ trong quản trị chuỗi cung ứng. Quản trị logistics được hiểu theo nghĩa rộng thì nó là quản trị chuỗi cung ứng. Một số nhà quản trị định nghĩa logistics theo nghĩa hẹp khi chỉ liên hệ đến vận chuyển bên trong và phân phối ra bên ngoài.
Trong trường hợp này thì nó chỉ là một bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng. Để phân biệt chuỗi cung ứng và những hoạt động khác, ta có thể dựa trên 3 điểm chính về tính năng động của hoạt động chuỗi cung ứng so với những hoạt động liên quan như sau: Đầu tiên, chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao. Các quyết định ở mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến toàn bộ các bộ phận khác. Thứ hai, chuỗi cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của nhu cầu.
Kho và nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng. Thứ ba, cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối. Thời gian trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo ra sự thay đổi trong các đơn đặt hàng và hàng tồn kho. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Sự phát triển chuỗi cung ứng Năm 1980, cùng với sự phát triển của hệ thống MRP II - Hoạch định nguồn lực sản xuất – Logistics phát triển vượt bậc.
MRP II cho phép doanh nghiệp kiểm soát và liên kết các hoạt động của doanh nghiệp từ kế hoạch nguyên vật liệu, kế hoạch tài chính tới kế hoạch sản xuất chính. Chính sự phát triển này đã đánh dấu sự ra đời của chuỗi cung ứng. Năm 1990, cùng với sự phát triển của internet đã trở thành công cụ hữu hiệu của chuỗi cung ứng và đánh dấu sự phát triển vượt bậc của chuỗi cung ứng. Thông qua hệ thống trao đổi thông tin điện tử EDI và giải pháp quản trị tài nguyên cho doanh nghiệp ERP đã cải tiến vược bậc cho việc truyền thông trong chuỗi cung ứng, trong thương mại điện tử và mua hàng qua mạng.
Từ năm 2000 đến nay, chuỗi cung ứng hướng tới khách hàng, dòng luân chuyển của nguyên vật liệu, sự liền mạch và thông suốt của dòng thông tin nhưng quan trọng nhất vẫn là cung ứng và sự hợp nhất của các nhà cung ứng. Sự hợp nhất các chuỗi cung ứng cũng là hiện tượng nổi trội để nâng cao năng lực cạnh tranh, 3 yếu tố chính sau sẽ tác động trực tiếp tới sự thay đổi cấu trúc để các công ty duy trì hoạt động của chuỗi cung ứng: (i) liên kết chuỗi cung ứng nội bộ với các chuỗi cung ứng của đối tác và hợp nhất hoạt động với nhau, (ii) công nghệ và internet là chìa khóa để cải thiện chiến lược quản trị chuỗi cung ứng, (iii) tái cơ cấu hoạt động chuỗi cung ứng để đạt được mục tiêu của công ty. Công nghệ RFID sẽ phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong quản trị chuỗi cung ứng, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng. Công nghệ này giúp định dạng sản phẩm, vận chuyển và kiểm soát tồn kho, tránh hàng hóa trong kho không đủ để phục vụ nhu cầu của thị trường đồng thời giảm thời gian hàng hóa, nguyên vật liệu bị lưu kho chờ sản xuất hay xuất xưởng đưa ra phân phối trên thị trường.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng Trong một chuỗi cung ứng, mỗi doanh nghiệp là một mắt xích của một hay nhiều chuỗi cung ứng khác nhau, chúng đan xen tạo thành mạng lưới phức tạp. Trong mỗi doanh nghiệp đều có những bộ phận chức năng phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện mục tiêu của tổ chức, đó là những chuỗi cung ứng nhỏ bên trong. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp sản xuất với các doanh nghiệp cung ứng, phân phối, tiêu thụ tạo thành mối quan hệ bên ngoài chuỗi cung ứng. Như vậy, có nhiều cách để phân loại cấu trúc chuỗi cung ứng dựa trên các chuỗi cung ứng bên trong và bên ngoài của sản phẩm.
- Theo đặc tính của sản phẩm: Chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain): Các sản phẩm thay đổi liên tục trên thị trường. Đặc điểm của loại chuỗi này là thông tin được chia sẻ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ qua chuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, mức độ tồn kho ít. Chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional Supply Chain): Đặc tính sản phẩm ít thay đổi, nhu cầu trên thị trường ít biến động. Để tăng hiệu suất hoạt động của chuỗi, nên tìm cách giảm chi phí trong sản xuất, vận chuyển và giao dịch, chú trọng giảm tồn kho, và tăng chia sẻ thông tin giữa các thành viên với nhau.
- Dựa vào cách thức đưa sản phẩm ra thị trường: Chuỗi đẩy (Push Supply Chain): Sản phẩm được sản xuất dạng tồn kho, sản xuất song song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Các nhà quản lý cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi kho của mình đến lớp tiếp theo trong kênh phân phối. Quyền lực nằm trong tay nhà cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán về giá cả, đặc biệt đối với các sản phẩm mới. Khách hàng không có nhiều cơ hội chọn lựa.
Chuỗi kéo (Pull Supply Chain): Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trên thị trường, họ tìm kiếm các nhà sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu của họ. Khách hàng có cơ hội chọn lựa những nhà cung cấp mà họ cảm nhận là tốt nhất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Nội dung hoạt động của chuỗi cung ứng Nghiên cứu về những hoạt động của chuỗi cung ứng, chúng ta có thể sử dụng được mô hình nghiên cứu hoạt động cung ứng SCOR (Supply Chain Operations Research), được Hội đồng cung ứng phát triển. Theo mô hình này, có bốn yếu tố được xác định như sau: Lập kế hoạch, tìm nguồn cung ứng, sản xuất, phân phối.
Các nghiên cứu về hoạt động chuỗi cung ứng ở Việt Nam tập trung nghiên cứu những hoạt động cụ thể trong chuỗi cung ứng: Dự báo, kế hoạch, mua hàng, tồn kho, sản xuất, phân phối, thông tin và dịch vụ khách hàng.