Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chính sách sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. - Chương 2: Thực trạng hoạt động chính sách sản phẩm tại công ty cổ phẩn bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) - Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm của công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) 4 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1.1 Đặc thù doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và vai trò của chính sách sản phẩm.1 Đặc thù doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm * Kinh doanh bảo hiểm luôn gắn liền với hoạt động đầu tư tài chính Nhƣ chúng ta đã biết bản chất của doanh nghiệp bảo hiểm là một định chế tài chính và phải đứng vững đƣợc trên “hai chân” của mình: “một chân” là kinh doanh bảo hiểm gốc còn “chân còn lại” là đầu tƣ tài chính và chỉ khi nào “hai chân” này hoạt động trơn chu, nhịp nhàng thì lúc đó doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm mới có khả năng phát triển bền vững trong tƣơng lai. Hiện nay các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang thực sự quan tâm đến hoạt động đầu tƣ tài chính và coi nó nhƣ một phao “cứu sinh” trong điều kiện cạch tranh “phi kỹ thuật” nhƣ hiện nay. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi vì hoạt động đầu tƣ tài chính đƣợc bắt nguồn từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và đƣợc thể hiện ở những khía cạnh: - Tận dụng khả năng sinh lợi của đồng tiền tạm thời nhàn rỗi, ở đây chính là phí bảo hiểm thu đƣợc nhƣng chƣa phát sinh bồi thƣờng sau khi đã trừ đi các khoản trích lập dự phòng bao gồm: dự phòng phí bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ và dự phòng giao động lớn.
Để tăng khả năng sinh lời của đồng tiền nhàn rỗi thì đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải có một bộ phận chuyên trách làm công tác đầu tƣ tài chính để nắm bắt các cơ hội kinh doanh tài chính hoặc mở ra những hƣớng kinh doanh mới cho doanh nghiệp, nếu không số tiền nhàn rỗi lại đƣợc gửi vào ngân hàng để đƣợc hƣởng lãi suất tiền gửi mà thôi, điều này chỉ phù hợp trong khi nền kinh tế khủng hoảng, vấn đề đầu tƣ gặp phải rủi ro lớn nên cần một nơi an toàn cho đồng vốn của doanh nghiệp. Còn đối với một nền kinh tế nhƣ Việt Nam hiện nay thì gửi tiền vào ngân hàng chƣa phải là một kênh đầu tƣ tài chính “khôn ngoan”. 5 z - Căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm đƣa ra một tỷ lệ phí nhất định chính là dựa trên sự nghiên cứu, đánh giá rủi ro có thể xảy ra đối với đối tƣợng bảo hiểm và thông thƣờng trên Thế giới cũng nhƣ Việt Nam thì tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ bù đắp đƣợc những tổn thất có thể xảy ra đối với đối tƣợng bảo hiểm hay nói cách khác tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ đảm bảo đƣợc rằng doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hòa vốn vì doanh thu phí bảo hiểm sẽ bằng đúng phần chi trả tiền bồi thƣờng. Nhƣ vậy lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm nằm ở đâu? đấy chính là từ hoạt động đầu tƣ tài chính mang lại nên các doanh nghiệp càng ngày càng quan tâm đến hoạt động đầu tƣ tài chính và coi nó quan trọng nhƣ kinh doanh bảo hiểm gốc.
- Một doanh nghiệp bảo hiểm năng động chính là việc doanh nghiệp đó vừa quản lý kinh doanh bảo hiểm gốc tốt, vừa có hoạt động đầu tƣ hiệu quả vì bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đang hoạt động trong thị trƣờng tài chính. Bên cạnh đó khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tƣ tài chính hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp nhạy bén hơn với những thay đổi của thị trƣờng tài chính, với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng… và điều này sẽ tác động tốt đối với việc quản trị kinh doanh bảo hiểm gốc giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh đƣợc “hai chân” của mình một cách nhịp nhàng và khéo léo mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. - Một thực tế dễ dàng nhận thấy là tại một số thời điểm thì việc kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm bị thua lỗ do việc tích tụ rủi ro cao dẫn đến tổn thất rất lớn nhƣ: Sập cầu dẫn Cần Thơ, ngập lụt tại Hà Nội hay cháy trung tâm thƣơng mại tại Thành phố Hồ Chí Minh…và lúc này hoạt động đầu tƣ tài chính đƣợc xem là “cứu cánh” cho doanh nghiệp bảo hiểm khỏi nguy cơ bị thua lỗ. * Đặc điểm về sản phẩm Bảo hiểm là một ngành sản phẩm đặc biệt cũng giống nhƣ các ngành sản phẩm khác là tạo ra sản phẩm vô hình.
Mục đích của bảo hiểm là đem lại sự an tâm, sự an toàn về mặt tài chính cho ngƣời tham gia bảo hiểm trƣớc những rủi ro có thể xảy ra. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm trừu tƣợng nên không thể thấy đƣợc và không dễ gì nhận biết đƣợc lợi ích cơ bản, đặc tính, công dụng của sản phẩm. 6 z Bảo hiểm khác với ngành sản phẩm khác ở chỗ các ngành sản phẩm khác đều có tiêu hao vật chất, nhƣ để vận chuyển hàng hóa cần có phƣơng tiện vận chuyển, để cung cấp sản phẩm ăn uống cần lƣơng thực, thực phẩm và dụng cụ nhà ăn, nhà bếp…sản phẩm bảo hiểm không tiêu hao vật chất, ngoại trừ một ít giấy tờ để làm thủ tục bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm là lời hứa, là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thƣờng hoặc trả tiền bảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra tổn thất.
Hiện nay, có những sản phẩm có khung thời gian ngắn (một năm, vài tháng, vài ngày hoặc thậm chí là vài phút, vài giây…) nhƣng cũng có những sản phẩm bảo hiểm có khung thời gian dài (hai năm, vài năm hoặc thời hạn theo một dự án hoặc công trình nào đó…), nhƣ vậy công tác chăm sóc khách hàng, tƣ vấn khách hàng phải đƣợc xây dựng theo từng loại sản phẩm khác nhau nhằm phụ vụ khách hàng một cách tốt nhất. Đối với ngƣời tiêu dùng thì không bao giờ mong muốn đƣợc sử dụng sản phẩm bảo hiểm và luôn tìm mọi cách để không phải sử dụng và doanh nghiệp bảo hiểm cũng không mong muốn khách hàng sử dụng sản phẩm của mình. Đây chính là đặc thù riêng có của bảo hiểm mà không một ngành nào có đƣợc. Sản phẩm bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngƣợc.
Đối với các sản phẩm, sản phẩm khác ngƣời tiêu dùng sử dụng sản phẩm xong và sau đó trả tiền, còn đối với bảo hiểm thì ngƣời tiêu dùng phải trả tiền trƣớc và sau đó nếu xảy ra tổn thất mới đƣợc sử dụng sản phẩm bảo hiểm, tuy nhiên bản thân ngƣời tiêu dùng cũng không biết có sử dụng sản phẩm bảo hiểm hay không? và họ cũng không bao giờ mong muốn đƣợc sử dụng cả. * Đặc điểm về khách hàng Đối với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm khối lƣợng khách hàng tiềm năng là rất lơn, bất kỳ ai cũng có thể trở thành khách hàng đƣợc dù đó là cá nhân hay tổ chức thì cũng luôn có những sản phẩm phù hợp để cung cấp cho khách hàng. Đối với khách hàng là cá nhân không phân biệt lứa tuổi, màu da, giới tính, giàu nghèo,. sẽ có những sản phẩm phù hợp dành cho mỗi cá nhân, đối với khách 7 z hàng là cơ quan, tổ chức sẽ có những sản phẩm phù hợp đƣợc cung cấp bởi các doanh nghiệp bảo hiểm.
Khách hàng của các doanh nghiệp bảo hiểm đƣợc phân bổ với phạm vi không gian địa lý rộng khắp vì khách hàng ở bất kỳ đâu cũng có thể tham gia bảo hiểm hoặc khách hàng tham gia bảo hiểm tại một địa điểm cụ thể và di chuyển sang một địa điểm khác… Với khối lƣợng khách hàng khổng lồ và tƣơng ứng với đó là nhu cầu cực kỳ đa dạng và phong phú đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có rất nhiều các sản phẩm bảo hiểm khác nhau để có thể cung cấp phù hợp với tất cả đối tƣợng khách hàng, điều này cũng giải thích vì sao hầu hết tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm cả Việt Nam và trên Thế giới đều đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm để phục vụ các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Khách hàng của các doanh nghiệp bảo hiểm rất phòng phú và đa dạng thông thƣờng có những các dạng nhƣ sau: - Chấp nhận trả một mức phí bảo hiểm cao để đảm bảo tốt nhất mọi quyền lợi hợp pháp của mình - Chấp nhận trả một mức phí bảo hiểm thấp và giảm bớt một số quyền lợi bảo hiểm của mình đi. - Chỉ chấp nhận trả một mức phí bảo hiểm thấp nhƣng yêu cầu đảm bảo tốt nhất mọi quyền lợi của mình. - Tâm lý mua để lấy may, không tính toán và sẽ không sử dụng sản phẩm bảo hiểm… Nhƣ vậy việc đáp ứng đƣợc nhu cầu da dạng và phòng phú của khách hàng là điều không hề đơn giản đối với các doanh nghiệp bảo hiểm bởi vì mỗi một dạng khách hàng sẽ có những nhu cầu khác nhau và yêu cầu về sản phẩm bảo hiểm cũng khác nhau hoặc thậm chí trong cùng một dạng khách hàng cũng có những nhu cầu khác nhau về bảo hiểm.
Điều này càng rõ ràng hơn trong nền kinh tế hiện đại và yêu cầu của khách hàng ngày càng tăng lên cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng. 8 z * Hoạt động nhận và nhượng tái bảo hiểm Hoạt động kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp bảo hiểm nào cũng đều gắn liền với hoạt động nhận và nhƣợng tái bảo hiểm nhƣ một điều tất yếu trong sự phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm. - Nhận tái bảo hiểm: Doanh nghiệp bảo hiểm nhận (mua) dịnh vụ bảo hiểm từ các doanh nghiệp bảo hiểm khác để cùng chia sẻ rủi ro và phải gánh chịu tổn thất tƣơng ứng với phần trách nhiệm nhận của mình. Khi nhận sản phẩm bảo hiểm thì phải trả một số tiền nhất định và đƣợc gọi là hoa hồng nhận tái bảo hiểm - Nhƣợng tái bảo hiểm: Doanh nghiệm bảo hiểm nhƣợng (bán) sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác để san sẻ rủi ro và giảm bớt phần trách nhiệm khi tổn thất xảy ra.