Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án - Chương 2: Nội dung đề án - Chương 3: Kiến nghị để thực hiện đề án 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. CĂN CỨ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ a) Khái niệm và đặc trưng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ: Về mặt pháp lý: Theo Khoản 13 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 thì bảo hiểm nhân thọ là “loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”.
Tức là, với loại hình bảo hiểm này, sự kiện bảo hiểm sẽ chỉ liên quan đến trường hợp người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định hoặc gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn, thương tật, hoặc chết. Theo đó, cơ sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mỗi bên chính là hợp đồng bảo hiểm – văn bản thể hiện cam kết đóng phí của bên mua bảo hiểm và cam kết chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm với hình thức, điều kiện, thời gian, hạn mức đóng phí/ chi trả khác nhau tùy thuộc vào từng loại HĐBH và quyết định của các bên. Như vậy, bảo hiểm nhân thọ chính là bản hợp đồng giữa bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm trong đó bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho bên bảo hiểm để đổi lại sự cam kết chi trả một khoản tiền nhất định của bên bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo quy định trong HĐBH. Về mặt kỹ thuật: BHNT bao gồm những cam kết của bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm mà theo đó, việc thực hiện những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ và/hoặc sức khỏe của người được bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm cam kết sẽ thanh toán đều đặn một khoản phí bảo hiểm nhất định, trong quãng thời gian nhất định. Ngược lại, bên bảo hiểm cam kết sẽ chi trả một số tiền bảo hiểm nhất định khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo HĐBH (người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định hoặc gặp tai nạn, thương tật). Theo Giáo trình bảo hiểm do Đặng ăn Dân (chủ biên) của NXB Tài chính, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi 5 thọ của con người, là bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau là sống và tử vong (Đặng ăn Dân, 2018). Như vậy, dựa trên các quy định hiện hành cũng như hoạt động kinh doanh BHNT thực tế, ta có thể rút ra khái niệm sau: BHNT là loại hình bảo hiểm giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm với đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe của con người.
Theo đó, người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho DNBH, đổi lại, DNBH cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp định kì trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm được quy định trong HĐBH. Bảo hiểm nhân thọ gồm năm đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, BHNT vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính tích lũy. Bảo vệ người được bảo hiểm trước những rủi ro là đặc trưng cơ bản và trọng yếu của sản phẩm BHNT. Các rủi ro được đề cập có thể là ốm đau, bệnh tật, mất khả năng lao động hay tử vong trong thời gian dài (5 năm, 10 năm,.
hoặc suốt đời). BHNT bảo vệ con người thông qua việc chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí điều trị, chi phí chăm sóc, giảm sút thu nhập trong và sau thời gian điều trị, chi phí nuôi dưỡng thân nhân khi người được bảo hiểm tử vong,… Bên cạnh đó, BHNT cũng mang tính tích luỹ. Bên mua bảo hiểm thực hiện việc đều đặn trích một phần thu nhập hàng tháng, hàng năm của mình để nộp phí bảo hiểm. Sau khi hết hạn hợp đồng hoặc khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì người thụ hưởng theo HĐBH sẽ nhận được một số tiền nhất định bằng hoặc lớn hơn số tiền mà bên mua bảo hiểm đã đóng.
Hiện nay, nhằm đáp ứng đa dạng các nhu cầu của khách hàng, hợp đồng BHNT thường được thiết kế theo dạng mang cả tính bảo vệ và tính tích lũy. Tính bảo vệ thể hiện ở việc nếu xảy ra sự kiện được bảo hiểm thì DNBH chi trả số tiền bảo hiểm như cam kết trong HĐBH. Tính tích lũy thể hiện ở việc nếu hết hạn HĐBH, sự kiện được bảo hiểm không xảy ra thì DNBH vẫn chi trả một khoản quyền lợi cho khách hàng theo đúng cam kết trong HĐBH. Hai là, BHNT không hạn chế khoản tiền được bảo hiểm.
Khác với bảo hiểm phi nhân thọ, loại hình bảo hiểm giới hạn số tiền được bảo hiểm hay hạn mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại, BHNT không hề hạn chế mức tiền bảo hiểm. Tức là, người tham gia BHNT được quyền lựa chọn số tiền bảo hiểm trong BHNT và được DNBH chấp thuận nếu phù hợp với khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm 6 trên cơ sở người tham gia bảo hiểm cam kết hoàn thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn theo quy định của HĐBH. Điều này xuất phát từ tính chất của đối tượng của BHNT. BHNT bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người – những yếu tố vô giá, khó có thể định lượng được.
Do đó, hạn mức chi trả của bên bảo hiểm sẽ chỉ phụ thuộc vào mục đích và khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm nộp phí càng cao thì hạn mức bảo vệ sẽ càng cao và ngược lại. Ba là, BHNT có quá trình định phí rất phức tạp (Tô Thị Hồng, 2022). Để cung cấp sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng, DNBHNT phải bỏ ra rất nhiều chi phí như chi phí khai thác, chi phí dịch vụ,… Tuy nhiên, phí bảo hiểm không chỉ dựa vào những số liệu này, bởi HĐBH thường có thời hạn dài, DNBH sẽ không phải chi trả ngay cho người được thụ hưởng mà phải qua một thời gian nhất định.
Do đó, nhằm đảm bảo lợi nhuận cho DNBH, phí bảo hiểm sẽ phải lường trước được sự biến động của các yếu tố khác như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người, chỉ số lạm phát, tình trạng sức khỏe, tuổi tác của người được bảo hiểm, thời gian bảo hiểm. Điều này hoàn toàn khác biệt với việc định giá một sản phẩm hữu hình được sản xuất bởi dây chuyền như xe máy, điện thoại, tivi,. Đối với những sản phẩm này, nhà sản xuất có thể hạch toán cụ thể, chính xác các chi phí đầu vào, chi phí thực tế phát sinh để tính toán, định giá sản phẩm đầu ra. Tuy nhiên, với BHNT thì việc định phí còn phải dựa trên các yế tố như tỷ lệ rủi ro tử vong, tỷ lệ hủy hợp đồng, tỷ lệ bệnh hiểm nghèo, tỷ lệ tai nạn, tỷ lệ chỉ số tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, giả định về chi phí triển khai sản phẩm và lợi nhuận của DNBH… Do đó, việc định phí BHNT là hết sức phức tạp, đòi hỏi chuyên môn cao.
Bốn là, sản phẩm được bán là sản phẩm vô hình – sự cam kết của DNBH về việc sẽ chi trả quyền lợi bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm hay người được bảo hiểm theo các điều khoản trong HĐBH. Có hai loại cam kết chính trong BHNT, một là cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn của người tham gia bảo hiểm và hai là cam kết chi trả quyền lợi bảo hiểm của DNBH. Bởi vậy, BHNT chính là việc DNBH bán cam kết về việc khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, DNBH sẽ thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình theo các điều khoản, điều kiện, cách thức, phương thức quy định trong HĐBH. 7 Năm là, BHNT là một dịch vụ tài chính nhạy cảm (Diệu Hương, 2017).
ề bản chất, kinh doanh bảo hiểm dựa vào uy tín. DNBH nào càng uy tín thì càng giữ chân khách hàng và thu hút thêm khách hàng mới. Bên cạnh đó, với tư cách là một dịch vụ tài chính, BHNT có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường vốn và tiền tệ. Những tác động nhỏ từ hai thị trường này cũng có thể ảnh hưởng nhiều đến thị trường BHNT và ngược lại, một cuộc khủng hoảng tại một DNBH có thể lan rộng, tác động đến các doanh nghiệp khác và thậm chí đến cả thị trường vốn và tiền tệ, bởi phần lớn phí bảo hiểm thu được hiện nay được đưa vào nền kinh tế quốc dân thông qua trái phiếu, chứng khoán, tiền gửi, bất động sản,… DNBHNT chỉ giữ lại một khoản tiền cần thiết theo quy định pháp luật.
b) Khái niệm và đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước hết là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp theo pháp luật, có ngành nghề kinh doanh bảo hiểm, cung cấp sản phẩm BHNT, bảo hiểm sức khỏe cho khách hàng trên cơ sở HĐBH, theo đó, với điều kiện khách hàng đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như cam kết trong HĐBH, DNBHNT sẽ thực hiện việc chi trả cho người thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra theo đúng thỏa thuận trong HĐBH đã ký kết. Đặc trưng trước tiên của DNBHNT là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tài chính chủ yếu, thường xuyên và đặc thù là kinh doanh bảo hiểm. Tính đặc thù này thể hiện ở việc hoạt động kinh này này dựa trên rủi ro, một yếu tố không thể xác định và dự đoán trước một cách chuẩn xác. Rủi ro có thể xảy ra hoặc không, nếu xảy ra thì với mức độ nhẹ hoặc nặng.
Bởi vậy, sản phẩm bảo hiểm là vô hình, là sự đảm bảo tài chính cho người được bảo hiểm khi họ gặp phải rủi ro, đồng thời kèm theo các dịch vụ tài chính liên quan. Không chỉ vậy, DNBHNT có chu kỳ kinh doanh đảo ngược, người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, DNBH được thanh toán cho sản phẩm của mình, rồi sau đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì mới phát sinh chi phí cho DNBH (khoản chi trả theo HĐBH). Đặc trưng thứ hai là DNBHNT được thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan.