Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing và chính sách Marketing trong kinh doanh dịch vụ. - Chương 2: Thực trạngchính sách marketing đối với dịch vụ Phân tích kiểm nghiệm tại Trung tâmPhân tích và Đo lường Chất lượng Bình Định. - Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing đối với dịch vụ Phân tích kiểm nghiệm tại Trung tâm Phân tích và Đo lường Chất lượng Bình Định. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Sau khi đề tài này được hoàn thiện nó sẽ mang ý nghĩa sau: Giúp nhà quản trị thấy rõ tình hình hoạt động marketing đối với dịch vụ Phân tích kiểm nghiệm tại Trung tâm, khả năng ứng phó của Trung tâm với các yếu tố bên trong và bên ngoài, vị thế của Trung tâm so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị biết rõ hơn về vấn đề thực tế và vị thế của dịch vụ PTKN của e 4 Trung tâm, ngoài ra các giải pháp marketing được đề ra đều là những giải pháp khả thi và có thể mang lại hiệu quả cao khi áp dụng. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Với đề tài: “Hoàn thiện chính sách marketing đối với dịch vụ Phân tích kiểm nghiệm tại Trung tâm Phân tích và Đo lƣờng chất lƣợng Bình Định” đây là một đề tài tương đối mới tại Trung tâm hiện chưa được nghiên cứu, nhưng được sự tư vấn và giúp đỡ tận tình của cán bộ hướng dẫn khoa học TS. Phan Trọng Nghĩa tác giả đã chọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ của mình. Trong quá trình làm luận văn tác giả có nghiên cứu một số tài liệu về cơ sở lý luận, chính sách marketing của một số tác giả, đồng thời tham khảo một số luận văn có liên quan đến việc hoàn thiện chính sách marketing của doanh nghiệp như sau: - Đặng Văn Lợi (2014), Luận văn thạc sĩ “Lập Kế Hoạch Marketing cho dịch vụ đăng kiểm và kiểm định công nghiệp của công ty TNHH TUV SUD Việt Nam”, Trường Đại học Bách khoa Tp.
- Ngô Thị Bảo Trang (2013), Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện chính sách marketing cho sản phẩm nước ngọt có ga Chánh Thắng – Bidiphar tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn”, Đại học Đà Nẵng. - Trung tâm Phân tích và Đo lường chất lượng Bình Định, “Bảng báo cáo tổng kết tình hình hoạt động giai đoạn 2015-2020”, ban hành ngày 06/12/2020. Ngoài ra tác giả còn tham khảo các tài liệu liên quan khác. Qua quá trình tham khảo các tài liệu có liên quan, tác giả đi sâu vào phân tích các số liệu và đánh giá hoạt động kinh doanh của Trung tâm nói chung và hoạt động PTKN nói riêng, từ đó tác giả đề xuất các nội dung cần hoàn thiện chính sách marketing phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PTKN của Trung tâm.
e 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING VÀ CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ 1. Khái quát về dịch vụ và marketing dịch vụ 1. Khái quát về dịch vụ Theo Philip Kotler, dịch vụ (DV) là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Hay “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”.
Dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Dịch vụ là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau. Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. Dịch vụ gắn liền với hiệu suất/ thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng.
Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịch vụ. Khái quát về marketing dịch vụ Có nhiều định nghĩa về marketing, tùy theo quan điểm, góc độ nhìn nhận mà giữa các định nghĩa có sự khác nhau. Tựu chung lại có ba khái niệm marketing cần quan tâm: - Khái niệm của Viện nghiên cứu Marketing Anh: “Marketing là chức e 6 năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút được lợi nhuận dự kiến” .Khái niệm này liên quan đến bản chất của marketing là tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu, khái niệm nhấn mạnh đến tính chất, quá trình của hoạt động marketing bao gồm từ việc phát hiện nhu cầu đến việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng, và khái niệm marketing bao gồm các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm đảm bảo thu hút được lợi nhuận cho công ty. - Khái niệm của Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện nội dung sản phẩm, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”.Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh doanh.
Qua đây ta thấy nhiệm vụ của marketing là cung cấp cho khách hàng những hàng hóa và dịch vụ mà họ cần. Các hoạt động của marketing như việc lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và thực hiện các dịch vụ khách hàng… nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua các nỗ lực marketing của mình. - Theo Philip Kotler, Marketing được định nghĩa như sau: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi”.Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đổi trong kinh doanh như là một bộ phận của marketing. Hoạt động marketing diễn ra trong tất cả các lĩnh vực trao đổi nhằm hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong thực tiễn kinh doanh cũng như ở các lĩnh vực trao đổi, kinh doanh khác.
Tóm lại: Marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân e 7 và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng cùng với hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Marketing dịch vụ thực chất là nghiên cứu nhu cầu và thoả mãn tối đa các nhu cầu đó trên cơ sở tận dụng tối đa các nguồn lực bên trong cùng với sự kết hợp có hiệu quả với các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp.
Chính sách marketing trong kinh doanh dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ (product). Chính sách sản phẩm là tổng thể những quy tắc chỉ huy việc tung sản phẩm vào thị trường nhằm củng cố, gạt bỏ hoặc bổ sung, đổi mới sản phẩm cho thị trường mà doanh nghiệp đã lựa chọn. Nội dung chính sách sản phẩm bao gồm: - Chính sách về danh mục và chủng loại của sản phẩm; - Chính sách về chất lượng sản phẩm; - Chính sách về thương hiệu; - Chính sách phát triển sản phẩm mới; e 8 1.
Giá dịch vụ (price). Chính sách giá của doanh nghiệp là sự tập hợp những cách thức và quy tắc xác định mức giá cơ sở của sản phẩm và quy định biên độ giao độngcho phép thay đổi mức giá cơ sở trong những điều kiện nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Chính sách giá chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố thuộc về chính doanh nghiệp và các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp như: - Các mục tiêu marketing; - Chiến lược marketing; - Chi phí sản xuất; - Đặc tính sản phẩm; - Tính chất cạnh tranh của thị trường; 1. Phân phối dịch vụ (Place) Phân phối là tập hợp những cá nhân hay cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ người cung ứng đến người tiêu dùng.
Chiến lược phân phối sản phẩm được chia thành 2 hình thức bao gồm: Kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp. Kênh phân phối trực tiếp (Nhà sản xuất tới khách hàng) Kênh phân phối trực tiếp được hiểu là nhà sản xuất cung cấp, bán trực tiếp sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà không qua trung gian hay các đại lý ủy quyền khác. Hình thức phân phối này được áp dụng rộng rãi tại nhiều doanh nghiệp, đơn vị, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, thức ăn, đồ uống hay các ngành khác. Kênh phân phối gián tiếp (Bán hàng qua trung gian) Kênh phân phối gián tiếp dựa vào các trung gian để thực hiện hầu hết hoặc tất cả các chức năng bán hàng, hay còn gọi là bán ủy quyền.
Mô hình e 9 phân phối này khá phổ biến trên thế giới, tại Việt Nam có thể kể đến một số ví dụ điển hình áp dụng kênh phân phối gián tiếp như: Tập đoàn Hòa Phát, Tập đoàn Tân Á Đại Thành,… Đối với kênh phân phối gián tiếp thì có thể chi tiết thành: - Kênh phân phối 1 cấp: Kênh phân phối 1 cấp sử dụng nhà bán lẻ làm trung gian phân phối.Doanh nghiệp sau khi sản xuất hàng hoá sẽ phân phối đến các nhà bán lẻ , sau đó các nhà bán lẻ sẽ bán lại cho những người tiêu dùng.