CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN 1. Khái niệm và tính chất của chế độ kế toán 1. Khái niệm chế độ kế toán Ở các nước XHCN, sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, với sự ra đời của Nhà nước Liên bang Cộng hoà XHCN Xô Viết và sau năm 1945, ra đời hệ thống XHCN thế giới, đã xuất hiện một nền kinh tế chỉ huy, vận động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong đó Nhà nước là người quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bằng kế hoạch và các chỉ tiêu pháp lệnh khá chặt chẽ.
Cơ chế quản lý đó đã có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, thực hiện một số mục tiêu kinh tế-xã hội nhất định, nhưng nhìn chung tổng thể đó có một cơ chế thiếu động lực, kìm hãm sự phát triển. Nền kinh tế nước ta trước đây cũng đã rơi vào tình hình chung đó, đòi hỏi khách quan phải đổi mới quản lý kinh tế hàng hoá, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là những hoạt động mà Nhà nước cần thực hiện để cùng với thị trường đảm bảo thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển. Về nguyên tắc, Nhà nước không can thiệp vào những lĩnh vực mà thị trường hoạt động.
Sự can thiệp không đúng lúc, đúng chỗ và đúng mức độ của Nhà nước có thể dẫn đến những thiệt hại cho nền kinh tế, làm giảm tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. John Nayard Keynes trong tác phẩm “Sự kết thúc của thị trường tự do” đã viết: điều quan trọng đối với Nhà nước không phải là làm những việc mà người dân đã làm, làm tốt hơn hay tồi hơn họ một chút, mà là làm những việc mà hiện nay chưa ai làm. Việt Nam cũng như các nước XHCN trước đây 7 trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, Nhà nước đã làm tất cả, không còn chỗ đứng cho thị trường. Nền kinh tế không vì thế mà tốt hơn, thực tế đã khẳng định là kém hơn.
Những sự can thiệp tất yếu hay những chức năng kinh tế của Nhà nước đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn lịch sử bao gồm: duy trì luật pháp và trật tự xã hội, quản lý có hiệu quả khu vực kinh tế Nhà nước, giải quyết một số khiếm khuyết của thị trường như độc quyền, ảnh hưởng ngoại ứng và phân phối không công bằng. Tất cả những chức năng này, thị trường thất bại và Nhà nước phải thực hiện, thực hiện tốt hơn. Vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế không chỉ ở sự điều tiết, khống chế, định hướng bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế và các chính sách, biện pháp kích thích, mà còn bằng thực lực kinh tế của Nhà nước-tức bằng sức mạnh của hệ thống kinh tế nhà nước và các công cụ kinh tế đặc biệt khác. Điển hình là công cụ pháp luật, Nhà nước can thiệp vào công tác quản lý kinh tế ở Việt Nam bằng việc xây dựng luật hoá, như xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
Các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm văn bản luật do Quốc hội-cơ quản quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành như Hiến pháp và Luật; các văn bản dưới luật có giá trị pháp lý thấp hơn luật, nội dung không trái với Hiến pháp và Luật như Nghị định, Pháp lệnh, Lệnh, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, mà trực tiếp cuối cùng là Chế độ cụ thể trong đó có Chế độ kế toán. Theo quan điểm của Việt Nam được quy định tại khoản 9-điều 4 của Luật kế toán số 03/2003 thì: “Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành”. Tính chất của chế độ kế toán Chế độ kế toán ban hành được biểu hiện dưới dạng văn bản là Quyết định, là phương tiện cơ bản để người lãnh đạo quản lý thực hiện các mệnh lệnh và nội dung quản lý của mình tới các đối tượng quản lý. Có tính chất sau: - Chế độ kế toán mang tính ý chí.
Bản chất này do tính chất của hoạt động quản lý Nhà nước quy định. Nó biểu hiện quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hướng tới một trật tự pháp lý theo mục tiêu hoạt động của mình. - Chế độ kế toán mang tính Nhà nước. Nó được đưa ra bởi cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền, được xây dựng theo trình tự, hệ thống hình thức do luật quy định; đòi hỏi các DN tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường phải tuân thủ và được dùng làm cơ sở để các cơ quan ngang Bộ quản lý kiểm tra hoạt động của các loại hình DN bị quản lý theo thẩm quyền.
Vai trò của chế độ kế toán - Chế độ kế toán được ban hành là một phương tiện đảm bảo thông tin cho hoạt động kinh doanh của các loại hình DN. Các thông tin này quy định và hướng dẫn thực hiện kế toán phần hành như Kế toán TSCĐ; Kế toán Nguyên vật liệu; Kế toán tiền lương; Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, tiêu thụ - xác định kết quả kinh doanh bao gồm các nội dung cụ thể như: Hệ thống chứng từ kế toán, Hệ thống tài khoản kế toán, Hệ thống sổ kế toán, Hệ thống báo cáo tài chính. 9 - Chế độ kế toán được ban hành cũng là phương tiện truyền đạt các nội dung cụ thể đến các đối tượng sử dụng chế độ (biểu hiện dưới dạng thông tư hướng dẫn). Các thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán phải được truyền đạt nhanh chóng, chính xác, đúng đối tượng thông qua hệ thống văn bản.
- Chế độ kế toán được ban hành là cơ sở cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các tổ chức, các DN. Kiểm tra là một công việc tất yếu để đảm bảo cho các tổ chức, các DN hoạt động có hiệu quả. Nếu không có kiểm tra chặt chẽ và thiết thực thì sẽ không thể phát hiện ra được những gian lận và sai sót trong công tác kế toán ở các đơn vị. Đồng thời cũng là cơ sở để xem xét chế độ ban hành có phù hợp với các loại hình DN hay không, công tác kiểm tra giúp cơ quan quản lý Nhà nước sớm điều chỉnh và ban hành những văn bản phù hợp với thực tế.
BẢN CHẤT, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1. Khái niệm và vai trò của chế độ kế toán TSCĐ 1. Khái niệm chế độ kế toán TSCĐ Bất kể một DN nào muốn tiến hành hoạt động SXKD đều phải có một số nguồn lực nhất định. Nguồn lực của DN có thể được hình thành từ chủ sở hữu DN hoặc từ các nguồn tài trợ từ bên ngoài và được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu SXKD của DN.
Trong số tài sản đầu tư sử dụng cho hoạt động SXKD của DN không thể không có TSCĐ - TSCĐ là cơ sở vật chất chủ yếu và quan trọng của mọi DN. Trong nội dung chế độ kế toán ban hành, gồm những quy định để thực hiện kế toán các phần hành, trong đó có phần hành TSCĐ, có thể nói đó là Chế độ kế toán TSCĐ. Chế độ kế toán TSCĐ là những quy định và hướng dẫn thực hiện tổ chức kế toán TSCĐ: kế toán tăng, giảm TSCĐ; tình hình sử dụng TSCĐ; kế toán khấu hao và giá trị hao mòn của TSCĐ; kế toán sửa chữa TSCĐ; kiểm kê TSCĐ biểu hiện qua hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán và phản ánh trên báo cáo tài chính. Vai trò của chế độ kế toán TSCĐ - Chế độ kế toán TSCĐ là phương tiện đảm bảo thông tin và truyền đạt các nội dung cụ thể về các quy định trong hạch toán TSCĐ, trong sử dụng chứng từ liên quan đến TSCĐ, cách sử dụng tài khoản kế toán và việc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách kế, phản ánh chỉ tiêu TSCĐ trên các báo cáo tài chính.
- Chế độ kế toán TSCĐ ban hành là cơ sở cho công tác kiểm tra, thanh tra giám sát của cơ quan quản lý về hoạt động kinh doanh của các tổ chức và DN đặc biệt hạch toán TSCĐ và tình hình theo dõi hiệu quả sử dụng TSCĐ. Thông qua công tác kiểm tra để có những điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình thực tế của các DN và phát hiện kịp thời những gian lận, sai sót trong quản lý TSCĐ cũng như hạch toán TSCĐ. Sự cần thiết xây dựng chế độ kế toán TSCĐ 1. Kinh nghiệm xây dựng chế độ kế toán TSCĐ ở Mỹ Hiệp hội kế toán Mỹ xây dựng chế độ kế toán Mỹ, trong đó có chế độ kế toán TSCĐ.
Trong chế độ này cũng đưa ra những quy định và hướng dẫn tổ chức thực hiện kế toán TSCĐ như kế toán tăng, giảm TSCĐ, kế toán khấu hao TSCĐ, tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ, kế toán sửa chữa TSCĐ… Cụ thể, kế toán TSCĐ Mỹ đã đưa ra: TSCĐ là những tài sản hữu hình hoặc vô hình có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài trên một năm. Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, thuận lợi trong việc hạch toán và căn cứ vào hình thái biểu hiện, thì TSCĐ chia thành TSCĐ HH (đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải) và TSCĐVH (Bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu, chi phí thành lập, đặc quyền và uy tín, sự tín nhiệm). Sự khác biệt cơ bản giữa chế độ kế toán TSCĐ Mỹ và chế độ kế toán TSCĐ Việt Nam không ghi nhận đất đai là TSCĐ HH (nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này là chế độ sở hữu) và chi phí thành lập được ghi nhận trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí SXKD. 11 Nguyên giá TSCĐ bao gồm tất cả các phí tổn cần thiết và hợp lý để đưa TSCĐ vào vị trí sẵn sàng sử dụng.
Đối với TSCĐ mua, nguyên giá được xác định trên cơ sở giá mua cộng (+) các chi phí chuyên chở, lắp ráp, chạy thử trừ (-) chiết khấu được hưởng do thanh toán sớm.