CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ. HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1. TONG QUAN VE CHIEN LUQC 1. Khái niệm về chiến lược và hoạch định chiến lược Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ Hy Lạp và được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở: tin chắc cái gì đối phương có thể làm và các gì đối phương không thể làm.
Thông thường người ta hiểu chiến lược là kế hoạch và nghệ thuật chỉ huy quân sự. 'Khi nói đến chiến lược, người ta hay liên hệ đến sứ mệnh, tầm nhìn của. Thực ra không phải như vậy, sứ mệnh và tằm nhìn của doanh nghiệp mặc đù luôn được đưa vào như một phần của chiến lược nhưng nó. không đưa ra một định hướng rõ ràng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Chiến lược là việc tạo đựng một vị thế duy nhất và có giá trị nhờ việc triển khai một hệ thống các hoạt động khác biệt với những gì đối thủ cạnh tranh thực. Vậy một chiến lược như thế nào sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được vị thế như vậy trên thị trường? Theo cách tiếp cận hiện nay, chiến lược có thể rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hay đặt kế hoạch thực hiện. Theo quan điểm của Mintzberg, ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Mẫu hình có thể là bấtkỳ kiểu chiến lược nào: chiến lược được thiết kế từ trước hay chiến lược đột biến.
Cách tiếp cận hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh doanh và phát huy tính sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó đời hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, khả năng dự báo được những điều kiện để thực hiện chiến lược và đánh giá được giá trị của các chiến lược đột biến. Một chiến lược cần bắt đầu bằng việc xác định các kết quả kỳ vọng. mà chiến lược kinh doanh được xác lập để thực hiện chúng.
Các mục tiêu chiến lược sẽ đóng vai trò định hướng cho các hoạt động của doanh. nghiệp trong một số năm. Cần phân biệt giữa mục tiêu chiến lược với sứ mệnh, tầm nhìn của doanh nghiệp. Sứ mệnh của doanh nghiệp chi ra mục đích hay lý do tồn tại của doanh nghiệp vì vậy thường mang tính khái quát cao.
Ngược lại, mục tiêu chiến lược cần đảm bảo cụ thể, định lượng và có thời hạn rõ ràng. Việc lựa chọn mục tiêu gì có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lựa chọn lợi nhuận cao là mục tiêu chiến lược sẽ tập trung. vào phục vụ các nhóm khách hàng hay phân khúc thị trường đem lại lợi nhuận cao bằng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hoặc hiệu suất chỉ phi phí vượt trội.
Ngược lại, việc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng có thể dẫn dắt doanh. nghiệp phải đa dạng hóa dòng sản phẩm để thu hút các khách hàng ở nhiều phân đoạn thị trường khác nhau. Doanh nghiệp cũng cần tránh đối đầu với các đối thủ cạnh tranh mạnh hoặc đang đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chức năng nhiệm vụ và chiến.
lược được chuyển từ cấp doanh nghiệp sang cấp đơn vị kinh doanh và cung. cấp cơ sở đầu vào cho việc lập kế hoạch ở cấp đơn vị kinh doanh. Những định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt do được rút ra từ thực tiễn kinh tế xã hội khác nhau nhưng chiến lược bao gồm những nội dung cơ bản sau: - Việc xác định những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. ~ _ Việc đưa ra và lựa chọn các phương án thực hiện.
~_ Việc triển khai và phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả để thực. hiện mục tiêu đề ra. Hoạch định chiến lược là một quy trình có hệ thống nhằm đi đến xác. định các chiến lược kinh doanh được sử dụng để tăng cường vị thế cạnh tranh.
của doanh nghiệp. Nó bao gồm từ việc phân tích môi trường để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ, xác định mục tiêu dài hạn, trên cơ. sở đó xây dựng, triển khai thực hiện các chiến lược kinh doanh sao cho phat huy đầy đủ các điểm mạnh, khắc phục tối đa các điểm yếu, tận dựng nhiều nhất các cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ. Bén canh 46, Raymond Alain — Thietart cũng cho rằng: “Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan tới việc lựa chọn các phương tiện và phân bỗ nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định, ở đây cũng không đề cập đến hiệu quả, lợi thế cạnh tranh của một chiến lược”.
Các khía cạnh của quản trị chiến lược được MINTZBERG khái quát như sau: - Plan (kế hoạch): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. ~ Partern (Mô thức): Sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. - Position (Vj thế): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. ~ Perspective (Quan niệm): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới.
~ Ploy (Thủ thuật): Cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. Từ các luận điểm được phân tích trên, có thể thấy quan điểm về chiến lược tuy rằng được diễn giải khác nhau nhưng suy cho cùng, chiến lược bao. gồm những nội dung cơ bản sau: ~ Xác định những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. ~ Đưa ra và phân tích lựa chọn các phươngán để thực hiện.
- Triển khai và điều phối các nguồn lực một cách hiệu quả để thực hiện mục tiêu đề ra. Việc vạch ra những nhiệm vụ, những mục tiêu, và những chiến lược của một công ty là một bước khởi đầu hết sức logic và cần thiết trong quản trị chiến lược, bởi lẽ vị trí hiện tại và tình trạng của công ty có thể ngăn không, thể áp dụng một số chiến lược, mà thậm chí có thể là ngăn cản một loạt những. Những đặc trưng cơ bản của chiến lược Các đặc trưng cơ bản đó là: ~ Chiến lược xác định rð những mục tiêu cơ bản phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh. vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp.
Tính định hướng của chiến lược nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động. ~ Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong. Nó chỉ mang tính định hướng còn trong thực tiễn hoạt động kinh. doanh đòi hỏi phải kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh cho phù hợp với môi trường và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục sự sai lệch do tính định hướng.
của chiến lược gây ra. - Chiến lược kinh doanh xây dựng dựa trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài sản lực cả hữu hình và vô hình), năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh. ~ Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược. ~ Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. Mục đích, chức năng, vai trò, ý nghĩa của hoạch định chiến lược a. Mục đích của hoạch định chiến lược Hoạchđịnh chiến lược là quá trình liên kết tất cả mọi nỗ lực của công ty vào việc thoả mãn khách hàng, hoàn thiện chất lượng và đạt các mục tiêu kinh doanh. Khi triển khai các kế hoạch chiến lược, các nhà quản trị và các thành.
viên áp dụng phương pháp tiếp cận trên toàn bộ tổ chức. Nhiệm vụ chung của hoạch định chiến lược và quản trị là hướng toàn bộ mọi nỗ lực của công ty về khách hàng, nhằm thoả mãn tối đa mọi nhu cầu của họ, qua đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty. Mục đích đài hạn: Bắt kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến bành hoạt dộng kinh doanh luôn nghĩ tới một tương lai tồn tại và phát triển lâu đài. Vì điều đó sẽ tạo cho.
doanh nghiệp thu được những lợi ích lớn dần theo thời gian. Công tác hoạch định chiến lược kinh doanh sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có một tương lai phát triển lâu dài và bền vững. Các phân tích và đánh giá về môi trường kinh doanh, về các nguồn lực khi xây dựng một chiến lược kinh doanh luôn được. tính đến trong một khoảng thời gian dài hạn cho phép (ít nhất là 5 năm).
Đó là khoảng thời gian mà doanh nghiệp có đủ điều kiện để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình cũng như khai thác các yếu tố có lợi từ môi trường. Lợi ích có được khi thực hiện chiến lược kinh doanh phải có sự tăng trưởng dan dần để có sự tích luỹ đủ về lượng rồi sau đó mới có sự nhảy vọt về chất. Hoạch định chiến lược kinh doanh luôn hướng những mục tiêu cuối cùngở những điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp để doanh nghiệp đạt được với hiệu. quả cao nhất.
Có điều kiện tốt thì các bước thực hiện mới tốt, làm nền móng, cho sự phát triển tiếp theo. Ví dụ: khi doanh nghiệp thực hiện chiến lược xâm nhập thị trường cho sản phẩm mới thì điều tất yếu là doanh nghiêp không thể có ngay một vị trí tốt cho sản phẩm mới của mình, mà những sản phẩm mới này cần phải trải qua một thời gian thử nghiệm nào đó mới chứng minh được chất lượng cũng như các ưu thế cạnh tranh khác của mình trên thị trường. Làm được điều đó doanh nghiệp mắt ít nhất là vài năm. Trong quá trình thực.
hiện xâm nhập thị trường đoanh nghiệp cần phải đạt được các chỉ tiêu cơ bản nào đó làm cơ sở cho sự phát triển tiếp theo. Sau đó doanh nghiệp cần phải củng cế xây dựng hình ảnh thương hiệu của sản phẩm trên thị trường. Đó là cả một quá trình mà doanh nghiệp tốn kém rất nhiều công sức mới có thể triển khai thành công.