MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp: Trẻ em luôn là niềm hy vọng, tự hào của mỗi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước và là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Các lý thuyết về phát triển nhân cách và các giai đoạn phát triển cho thay, dé trẻ em có thé phát triển được một cách đầy đủ cả về mặt thê chất lẫn tinh thần thì trẻ cần được tương tác xã hội. Điều này đặc biệt đúng với trẻ ở lứa tuổi vị thành niên — giai đoạn trẻ đang xác định bản ngã của mình và định vị vị trí của mình trong xã hội, vì vậy, trẻ ở lứa tuổi này có xu hướng bắt đầu tách ra khỏi sự ảnh hưởng của gia đình và gắn kết nhiều hơn với bạn bè, chịu ảnh hưởng nhiều hơn với bạn bè.
Bạn bè không chỉ là chỗ dựa tinh than, tâm lý và xã hội cho trẻ, mà còn là một thành tố đặc biệt quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ. Quan hệ bạn bè lại càng quan trọng hơn với các nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như: Trẻ em lang thang, Trẻ em bị lạm dụng sức lao động, Trẻ em bị xâm hai tình dục, Trẻ em khuyết tật và đặc biệt là Trẻ m6 côi. Đây là nhữngnhóm đối tượng yếu thế rất cần sự chia sẻ từ cộng đồng và sự trợ giúp của nhân viên Công tác xã hội (Kê cả những trẻ khi được nhận vào nuôi dưỡng tại các trung tâm bảo trợ xã hội).Theo thống kê của Bộ LDTB& XH năm 2019, Việt Nam hiện nay có tới 157.000 trẻ em bị bỏ rơi và trẻ mồ côi, vì thế giải quyết những vấn đề liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sẽ góp phần không nhỏ tạo nên sự phát triển bền vững của Quốc gia và đó cũng chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua Việt Nam đã có rất nhiều mô hình, đề án và chương trình hành động nhăm chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ, giúp đỡ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có trẻ em m6 côi với nhiều hình thức khác nhau như: trại trẻ mồ côi, trung tâm bảo trợ xã hội, mái ấm, tình thương.
và đặc biệt là Làng trẻ SOS - một trong những hình mẫu lý tưởng hoạt đông theo mô hình dựa trên nền tảng 4 nguyên tắc sư phạm của Làng trẻ em SOS Quốc tế là: Bà mẹ, anh-chi-em, mái 4m gia đình và cộng đồng làng. Tại Làng trẻ SOS Hà Nội, chương trình chăm sóc, hỗ trợ trẻ em mồ côi nơi đây đã đáp ứng được phần nào một số nhu cầu nhất định để đảm bảo cuộc sống của trẻ như: nhu câu vat chat, nhu câu tinh thân, nhu câu an toản. song tuy nhiên, 6 bên cạnh những trợ giúp về y tế, kinh tế, tài chính, pháp luật thì việc trợ giúp trẻ trong việc tạo dựng và phát triển những mối quan hệ bạn bè lại chưa được quan tâm nhiều, dẫn tới thực trạng trẻ mồ côi thường gặp khó khan trong việc kết bạn và duy trì tình bạn lành mạnh. Đặc biệt là các trẻ nam khi đến 14 tuổi sẽ được chuyên sang môi trường sống khác.
Khi đó lại thêm lần nữa sự đồ vỡ, chia ly lại tái hiện trong cuộc sống của các trẻ nơi đây. Xuất phát từ những van đề trên của trẻ em mồ côi đang sống trong Lang SOS và tình hình thực tiễn của CTXH ở Việt Nam hiện nay trong trợ giúp trẻ em m6 côi có nhu cau, đã là những ý tưởng thôi thúc chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: “Ung dụng CTXH Nhóm trong việc hỗ trợ trẻ vị thành niên biết cách xây dựng tình bạn - Thực hành trên nhóm trẻ em mô côi đang sống tại làng trẻ SOS Hà Nội” 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.Các nghiên cứu chung về Trẻ mô côi trên Thế giới Nghiên cứu “Cai thiện giáo dục trung học cho trẻ mô côi và trẻ em dễ bị ton thương ở Malawi: Quan điểm của một tổ chức phi chính phủ (Improving secondary education for orphans and vulnerable children in Malawi: One non- governmental organization's perspective)” của tac gia Karen Solheim va Amy Lawrence đã chỉ ra rằng giáo dục là rất quan trọng đối với sức khỏe cá nhân va quốc gia. Tuy nhiên, trẻ mô côi và trẻ em dé bị tổn thương (OVC) gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục.
Các tác giả khuyến nghị tăng cơ hội cho những người nghéo nhất, cho trẻ mồ côi, đặc biệt là các cô gái; nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng; phân bé nguồn lực tốt hơn; và tận dụng các hỗ trợ. Nghiên cứu “Những hạn chế đối với các cơ hội giáo dục của trẻ mô côi: một nghiên cứu dựa trên cộng dong từ phía bắc Uganda (Constraints to educational opportunities of orphans: a community-based study from northern Uganda)” cua tac gia C. Oleke đã đánh giá các han chế về cơ hội giáo dục của trẻ mô côi được chăm sóc trong hệ thông gia đình mở rộng ở quận Lira, miễn bắc Uganda. Trong đó, tác giả thấy rằng nghèo đói và sức khỏe là nguyên nhân dan đến những hạn chế lớn đổi với việc di học của trẻ mô côi.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra được những giải pháp thiết thực để có thể giải quyết được tình trạng đó.Các nghiên cứu chung về Trẻ mô côi ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu và thực hành CTXH nói chung va CTXH nhóm nói riêng được thực hiện một cách quy mô, bài bản va có tính hiệu quả thực tiễn cao. Tuy đã có các hoạt động nghiên cứu và thực hành CTXH dưới nhiều hình thức khác nhau, song Việt Nam còn thiếu những nghiên cứu can thiệp vừa mang ý nghĩa thực tiễn ( xây dựng mô hình hoạt động CTXH nhóm nhằm trợ giúp nhóm thân chủ), vừa mang ý nghĩa lý luận (bố sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn). Đặc biệt là các nghiên cứu can thiệp CTXH nhóm được thực hiện chuyên nghiệp càng vắng bóng. Trong phạm vi nghiên cứu này về nhóm trẻ em mồ côi và mô hình CTXH nhóm đối với TEMC tại làng trẻ SOS, tôi xin lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, báo cáo và bài viết tiêu biểu như sau: - Những nghiên cứu về trẻ em - tré em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nghiên cứu “ Xây dung và bảo vệ trẻ em.
Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” do Bộ LDTB& XH được sự giúp đỡ của UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009. Ban báo cáo đã nêu ra tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ dễ bị tổn thương trên thế giới và ở Việt Nam. Đồng thời, báo cáo còn cho chúng ta thấy các hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em ở Việt Nam, các dịch vụ hỗ trợ cho các trẻ , các đối tượng trẻ em như trémé côi, trẻ bị lạm dụng và bóc lột tình dục, trẻ đường phó, dựa trên pháp luật và chính sách của Việt Nam. Luận án tiễn sĩ “ Cơ cấu nhóm của trẻ em lang thang và các biện pháp giáo dục thông qua nhóm ” của tác giả Đỗ Thị Ngoc Phương năm 2002 — Trường Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận án đã làm rõ cơ cau của một số nhóm trẻ em lang thang, thực trạng hiểu biết về trẻ em lang thang của cán bộ xã hội, những khuyến ngi về việc sử dụng các biện pháp giáo dục một cách thích hợp đối với trẻ em lang thang. Luận án cũng đã làm rõ một số lý thuyết làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về trẻ em lang thang, hệ thống lý luận về nhóm, nhóm nhỏ, CTXH nhóm, góp phan bổ sung cho lý thuyết nhóm và vận dụng trong thực hành nghiên cứu trẻ em lang thang, bước đầu nhận định trẻ em lang thang ở Việt Nam, giúp nhận thức đúng về phương pháp CTXH nhóm về cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Công trình nghiên cứu khoa học: “ Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt — Lý luận và fhực tiễn ” của nhóm Nguyễn Thị Mỹ Dung, Bùi Đoàn Danh Thảo, Nguyễn Thi Kim Thanh năm 2008 — Khoa Quốc tế, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã trình bày rõ các vấn đề lớn về mặt pháp luật của luật pháp Quốc tế và luật pháp Việt Nam quy định đối vieus việc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Về mặt thực tiến nghiên cứu đã làm rõ được thực trạng và các cơ chế đề bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trẻ em tàn tật, trẻ em lang thang, trẻ em mồ côi, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em phạm tội, trẻ em bị bạo hành, trẻ em bị nhiễm chất DIOXIN, trẻ em lao động sớm, trẻ em bị nhiễm HIV; Cuối cùng nghiên cứu đã đưa ra được các kiến nghị nhằm khắc phục những bat cập nhằm bảo vệ trẻ em tốt hơn như các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý; kiến nghị Bộ Giáo dục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện chương trình giáo dục phù hợp với sự phát triển của trẻ, đồng thoi cần tăng cường tuyên truyền phổ biến công tác bảo vệ và chăm Sóc trẻ em.
Công trình nghiên cứu khoa học “Khảo sát nhu cau về mặt tinh than của của trẻ mô côi tại trung tâm nuôi dưỡng trẻ mô côi ST.Joseph — Giáo xứ Hà Nội” của tác gi Bùi Thị Bích năm 2013 — Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã tìm hiểu được nhu cầu của TEMC sống tại các Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mé côi ở Giáo xứ Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhăm đáp ứng các nhu cầu ở các em, tạo điều kiện giúp các em vượt qua được những khó khăn về tâm lý dé phát triển toàn diện nhân cách, tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện hơn theo từng lứa tuổi của các em. Nghiên cứu “Trẻ em và quyển trẻ em, vấn dé lý luận và thực tiễn "của tác giả Trần Thị Kim Liên (Trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn) báo cáo trong hội thảo khoa học bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2011 - Trường Đại học An Giang.