Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và pháp luật về hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP 1.
Lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp và hỗ trợ thuế đối với doanh nghiệp khởi nghiệp 1. Lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp Về phương diện lý luận, để làm rõ khái niệm “doanh nghiệp khởi nghiệp” là gì, trước hết cần làm rõ các khái niệm có tính chất tiền đề, đó là khái niệm “doanh nghiệp” và khái niệm “khởi nghiệp”. Về khái niệm “doanh nghiệp” Trong pháp luật thực định Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp đã được nhà làm luật quy định rõ trong các đạo luật về doanh nghiệp được ban hành kể từ năm 1990 cho đến nay.
Chẳng hạn: Theo Luật Công ty1999 trước đây (nay đã hết hiệu lực), doanh nghiệp được định nghĩa là “các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”1. Theo quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014,”doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Gần đây nhất, khái niệm doanh nghiệp tiếp tục được ghi nhận tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021), theo đó: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”2. Trong khoa học pháp lý, khái niệm “doanh nghiệp” cũng đã từng được đề cập đến trong các công trình công bố của các tác giả trong nước.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là “một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán”. Xem: Luật Công ty năm 1999. Xem: Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020. 6 Từ các định nghĩa trên đây, có thể cho rằng doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có hoặc không có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất. Do đó, hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu cơ chế hoạt động tài chính của doanh nghiệp một cách toàn diện hơn. Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp có thể được phân loại theo tiêu chí ngành nghề kinh doanh hoặc theo tiêu chí hình thức pháp lý (hình thức tổ chức hoạt động). Nếu dựa vào tiêu chí ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp có thể được phân chia thành 6 loại hình cơ bản gồm: Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp - thủy sản, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp khác (như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…).
Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng và có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tài chính nói chung và nghĩa vụ thuế nói riêng của doanh nghiệp. Việc phân chia các loại hình doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh là cơ sở cho việc ước tính hệ số bêta phản ánh mức rủi ro của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp. Nếu dựa vào tiêu chí hình thức pháp lý (hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp), Luật doanh nghiệp năm 2014 ghi nhận có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân. Cách phân loại này chủ yếu dựa trên các đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp.
Về khái niệm “doanh nghiệp khởi nghiệp” Trong tiếng Anh, “khởi nghiệp” là startup hoặc start-up, thuật ngữ dùng để chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp3. Doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất. Doanh nghiệp khởi nghiệp có sự liên hệ mật thiết với nguồn tài chính và thủ tục pháp lý đăng ký doanh nghiệp khởi nghiệp. Xem: Nguyên Hạnh (2016), “Không nên đánh đồng startup với khởi nghiệp”.
Dẫn bởi nguồn:http://tiasang.vn/-doi-moi-sang-tao/Khong-nen-danh-dong--startup-voi-khoi-nghiep-10325. 7 Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất cho tới nay của thuật ngữ “Start-up” là định nghĩa do Steve Blank4 - cây đại thụ trong giới khởi nghiệp trên thế giới xây dựng: “Start-up là tổ chức được tạo thành để tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng tái lặp và nhân rộng”. Giám đốc điều hành Dự án Thung Lũng Silicon Việt Nam (VSV Accelerator, dự án được bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam), ông Hàn Ngọc Tuấn Linh cũng chia sẻ: “Start-up theo người Mỹ là mô hình kinh doanh repeatable và scalable. Repeatable là có khả năng đáp ứng những nhu cầu lặp lại với tần suất cao (Uber, Facebook) và scalable là có sức nhân rộng nhanh, liên tục (Starbucks)”.
Như vậy, có thể thấy Start-up không dùng để gọi những công việc kinh doanh mới bắt đầu mà chỉ để gọi một nhóm trong những doanh nghiệp khởi sự kinh doanh. Đó là các dự án kinh doanh bắt đầu từ số 0 nhưng gắn với sự sáng tạo rất mạnh và tạo thành mô hình kinh doanh cho phép nhân rộng với tốc độ tăng trưởng liên tục và mạnh mẽ. Ban đầu thuật ngữ Start-up thường được dùng với nghĩa hẹp để chỉ các hoạt động khởi nghiệp hoặc công ty khởi nghiệp về công nghệ. Nguyên nhân của điều này đến từ việc thành công của một ngành công nghiệp mới - công nghệ thông tin trong giai đoạn 1990s và bởi đây là những ngành mới phát triển gắn mật thiết với sự đổi mới và sáng tạo.
Theo thời gian khái niệm này đã “phẳng hóa” dần và hiện nay thuật ngữ Start-up được dùng chung cho các hoạt động khởi nghiệp trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Khi du nhập vào xã hội Việt Nam, khái niệm Start-up đã nhanh chóng trở nên phổ biến và tạo thành một phong trào khởi nghiệp. Tuy nhiên, không ít người lại nhầm lẫn giữa khởi nghiệp sáng tạo với việc bắt đầu một công việc kinh doanh, sáng lập một doanh nghiệp nhỏ thông thường. Tại diễn đàn Doanh nghiệp bên lề Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy đã khẳng định: “Khái niệm Start-up như chúng ta hay nghe thấy trên toàn thế giới tương ứng với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Nghĩa là khởi nghiệp từ những ý tưởng mới, những mô hình mới, những kết quả khoa học công nghệ mới. sau đó nhanh chóng phát triển thành doanh nghiệp để cạnh tranh toàn cầu và 4. Steve Blank là mentor của Eric Ries và cũng là người truyền cảm hứng để Eric viết nên cuốn sách nổi tiếng khắp thế giới - The Lean Start-up: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses. 8 được đầu tư nhanh chóng”5.
Trong văn bản chính sách hiện nay ở Việt Nam, doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMSTT được mô tả là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.”6 nhằm phân biệt với lập nghiệp thông thường như mở quán phở hay cửa hàng bán quần áo.7 Trong pháp luật thực định Việt Nam hiện nay, nhà làm luật chưa đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp khởi nghiệp mà mới chỉ có định nghĩa về “doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo”. Thật vậy, theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017 thì “doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh”8. Tuy nhiên, doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ có sự khác biệt như sau: Về mặt quy mô nhân sự và quy mô vốn ban đầu, doanh nghiệp khởi nghiệp có thể gần giống với doanh nghiệp vừa và nhỏ (vốn ít, nhân sự mỏng, chưa thể chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa). Do đó, nhiều người cho rằng những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bao gồm những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, bản chất doanh nghiệp khởi nghiệp rất khác so với doanh nghiệp nhỏ và vừa thông thường, do đó, yêu cầu hỗ trợ cũng sẽ khác nhau. Một số yếu tố khác biệt đặc trưng9 giữa hai đối tượng này như sau: - Doanh nghiệp khởi nghiệp (Start-up) có rủi ro cao hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) rất nhiều về cả công nghệ lẫn thị trường, vì sản phẩm, công nghệ của họ là sản phẩm, công nghệ mới gần như chưa từng có sản phẩm, công nghệ tương tự trên thị trường. Do đó, họ cần đảm bảo các khâu nghiên cứu, ứng dụng và thử nghiệm công nghệ nhiều lần trước khi đưa ra thị 5. Xem thêm: http://cand.vn/Van-de-hom-nay-thoi-su/Co-hoi-nao-cho-Viet-Nam-trong-CMCN-4-0-510285.
Quyết định số 884/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025”. Định nghĩa doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST trên đây là kế thừa khái niệm của các loại hình “emerging high-growth companies”, “early-stage innovative companies”, “entrepreneurs” hay “start- ups” trong các văn bản chính sách và các nghiên cứu trên thế giới. Sự phân biệt này không có nghĩa là chính sách Nhà nước chỉ hỗ trợ “khởi nghiệp ĐMST”, không hỗ trợ lập nghiệp thông thường, bởi vì, ở bất kỳ lĩnh vực nào, cũng cần khích lệ tinh thần doanh thương. Sự phân biệt này chỉ là để tìm cách hỗ trợ một cách phù hợp nhất với tính chất của từng loại hình.
Ví dụ, khi thu hút đầu tư mạo hiểm thì chỉ liên quan đến “khởi nghiệp ĐMST”. Định nghĩa này được ghi nhận trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017.