Tổng quan nghiên cứu

Theo Báo cáo từ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam năm 2020, cả nước có gần 26 triệu trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó khoảng 2,8 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hơn 2 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Trẻ em mồ côi là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi tâm lý, đòi hỏi sự chăm sóc và nuôi dưỡng chuyên biệt tại các thiết chế bảo trợ. Tại các mô hình gia đình thay thế như Làng trẻ em SOS, lực lượng người chăm sóc thay thế đóng vai trò hạt nhân trong việc định hình nhân cách và đồng hành cùng trẻ. Tuy nhiên, áp lực quản lý gia đình đông con cùng biến đổi tâm sinh lý khiến người chăm sóc thường xuyên đối mặt với căng thẳng kéo dài, suy giảm năng lượng tinh thần.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số 8760101) của tác giả Nguyễn Trần Hà An do Tiến sĩ Tiêu Thị Minh Hường hướng dẫn tại Trường Đại học Lao động – Xã hội tập trung nghiên cứu thực trạng và các yếu tố tác động đến hoạt động hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc thay thế tại Làng trẻ em SOS Hà Nội giai đoạn 2018–2020.

Công trình khảo sát trực tiếp 47 người chăm sóc thay thế đang nuôi dưỡng 211 trẻ mồ côi tại 16 ngôi nhà gia đình của Làng. Nghiên cứu xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm về nhu cầu tham vấn, huy động nguồn lực và giáo dục kỹ năng sống, từ đó cung cấp giải pháp nâng cao chỉ số hạnh phúc nghề nghiệp cho đội ngũ nuôi dạy, góp phần thực hiện chỉ tiêu 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp xã hội theo Quyết định số 647/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết hệ thống sinh thái của Urie Bronfenbrenner và Thuyết nhân vị trọng tâm của Carl Rogers để phân tích mối tương tác đa chiều giữa người chăm sóc với trẻ em, đồng nghiệp và ban lãnh đạo. Khung lý thuyết này làm rõ cách các tầng vi mô, trung mô và vĩ mô tác động trực tiếp đến sự cân bằng cảm xúc của người làm công tác nuôi dưỡng.

Nội dung nghiên cứu bám sát 4 khái niệm nền tảng: Chăm sóc thay thế (theo Điều 4 Luật Trẻ em 2016), Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 10 Luật Trẻ em 2016 gồm 14 nhóm đối tượng), Hỗ trợ tâm lý (các biện pháp tham vấn, tư vấn và trị liệu cảm xúc), và Hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp. Khung thể chế vận dụng các văn bản pháp luật then chốt gồm Nghị định số 762/VBHN-BLĐTBXH quy định mức trợ cấp chăm sóc nuôi dưỡng nhân hệ số 1,5 đến 2,5 và Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về Đề án phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu định lượng và định tính tại khuôn viên 19.000 m² của Làng trẻ em SOS Hà Nội ở số 2 Phạm Thận Duật, quận Cầu Giấy.

Cỡ mẫu định lượng bao gồm toàn bộ 47 người chăm sóc thay thế (gồm các bà mẹ, bà dì) đang trực tiếp quản lý 16 gia đình. Phương pháp chọn mẫu toàn thể được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát 100% đối tượng đích, triệt tiêu sai số chọn mẫu và phản ánh trọn vẹn đặc trưng tâm lý của lực lượng chăm sóc. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 9 đối tượng đại diện gồm 1 lãnh đạo Làng, 3 cán bộ chuyên môn và 5 bà mẹ, bà dì tiêu biểu để làm sâu sắc nguyên nhân thực trạng.

Phương pháp thống kê toán học được lựa chọn để phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và đối sánh độ lệch chuẩn. Việc lựa chọn công cụ thống kê toán học giúp chuẩn hóa dữ liệu định lượng, lượng hóa chính xác mức độ hài lòng và thứ tự ưu tiên trong nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người chăm sóc, mang lại độ tin cậy khoa học cao cho toàn bộ luận văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lực lượng chăm sóc thay thế mang đặc trưng rõ nét về giới tính và cơ cấu độ tuổi. Tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 78,7% (37 người), trong khi nam giới chỉ chiếm 21,3% (10 người). Về độ tuổi, nhóm 40–50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,9% (23 người), tiếp đến là nhóm 30–40 tuổi chiếm 34,0% (16 người), nhóm 50–60 tuổi chiếm 12,8% (6 người) và nhóm 25–30 tuổi chiếm 4,3% (2 người). Về trình độ học vấn, 48,9% đạt trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, 31,9% tốt nghiệp trung học phổ thông và 19,2% có trình độ trung học cơ sở.

Thứ hai, nhu cầu tham vấn tâm lý để xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội đạt tỷ lệ rất cao. Khoảng 83,0% người chăm sóc đánh giá nhu cầu tham vấn quan hệ trong gia đình với trẻ mồ côi ở mức rất cần thiết và cần thiết (57,4% rất cần thiết). Nhu cầu tham vấn quan hệ đồng nghiệp giữa các mẹ, các dì đạt 80,9% (36,2% rất cần thiết).

Thứ ba, nhu cầu can thiệp sức khỏe tâm thần và giải tỏa ức chế nội tâm chiếm tỷ trọng vượt trội. Có 78,7% người chăm sóc mong muốn được tham vấn để vượt qua cảm giác chán nản, bế tắc trong cuộc sống (38,1% rất cần thiết). Đồng thời, 72,3% người được hỏi có nhu cầu tham vấn xây dựng tinh thần lạc quan nhằm duy trì tâm lý vững vàng khi chăm sóc bình quân 10 đến 13 trẻ mỗi gia đình.

Thảo luận kết quả

Thực trạng căng thẳng tâm lý của người chăm sóc xuất phát từ gánh nặng nuôi dạy cùng lúc nhiều trẻ có quá khứ sang chấn, cộng hưởng với các biến đổi sinh học giai đoạn tiền mãn kinh của nhóm phụ nữ lứa tuổi 40–50 (chiếm 48,9%). So sánh với các nghiên cứu tại các trung tâm bảo trợ xã hội công lập, mô hình gia đình SOS tạo sự gắn kết tình cảm sâu sắc hơn nhưng cũng tạo áp lực trách nhiệm liên tục 24/7 cho các bà mẹ.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện phân bố học vấn và độ tuổi, kết hợp cùng biểu đồ cột kép so sánh mức độ cấp thiết giữa tham vấn quan hệ gia đình (83,0%) và giải tỏa bế tắc tinh thần (78,7%). Sự phân tích này chỉ ra khoảng trống lớn trong hoạt động trợ giúp hiện tại: các dịch vụ chủ yếu đáp ứng điều kiện sinh hoạt vật chất mà chưa thiết lập quy trình can thiệp tâm lý định kỳ cho người nuôi dưỡng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập quy trình tham vấn tâm lý định kỳ: Ban Giám đốc Làng trẻ em SOS Hà Nội chủ trì phối hợp với các chuyên gia tâm lý tổ chức các buổi tham vấn cá nhân và nhóm tối thiểu 2 lần mỗi quý, cam kết đạt tỷ lệ 100% người chăm sóc được hỗ trợ giải tỏa căng thẳng trong giai đoạn 2021–2023.

  2. Đào tạo chuyên đề kỹ năng sống và quản trị cảm xúc: Đội ngũ cán bộ chuyên môn triển khai 4 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng giao tiếp tích cực với trẻ vị thành niên, kỹ năng sơ cứu tâm lý và kiểm soát xung đột, hướng tới mục tiêu nâng mức độ hài lòng về kỹ năng nghề nghiệp của các mẹ lên trên 85% trước năm 2022.

  3. Đa dạng hóa nguồn lực xã hội chăm sóc sức khỏe tinh thần: Ban lãnh đạo Làng chủ động liên kết với các tổ chức xã hội và doanh nghiệp xây dựng quỹ "Sức khỏe Tinh thần", định kỳ tổ chức 2 đợt giao lưu, nghỉ dưỡng mỗi năm nhằm tái tạo sức lao động và giảm 40% chỉ số kiệt sức nghề nghiệp của đội ngũ chăm sóc.

  4. Bổ sung chính sách phụ cấp tâm lý nghề nghiệp: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan ban ngành cần xây dựng khung định mức hỗ trợ phục hồi sức khỏe tinh thần cho người chăm sóc thay thế, bổ sung vị trí nhân viên công tác xã hội chuyên trách tại các cơ sở nuôi dưỡng theo lộ trình thực hiện từ năm 2021 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các Làng trẻ em SOS và cơ sở trợ giúp xã hội: Cung cấp khung đánh giá thực trạng sức khỏe tinh thần của 47 nhân sự chăm sóc và mô hình tổ chức hoạt động hỗ trợ nội bộ hiệu quả.

  2. Nhân viên công tác xã hội và chuyên gia tâm lý: Cung cấp tài liệu thực tiễn về kỹ thuật tham vấn nhóm, công cụ đo lường nhu cầu thân chủ và phương pháp can thiệp khủng hoảng cảm xúc cho phụ nữ nuôi dạy trẻ mồ côi.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Công tác xã hội, Xã hội học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật về phương pháp nghiên cứu định lượng toàn thể kết hợp phỏng vấn sâu, cung cấp khung lý thuyết hệ thống chuẩn mực.

  4. Cán bộ hoạch định chính sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: Sử dụng căn cứ thực tiễn từ 16 gia đình thay thế để đề xuất sửa đổi các chính sách trợ giúp xã hội, bổ sung tiêu chuẩn chăm sóc tinh thần theo Luật Trẻ em 2016.

Câu hỏi thường gặp

  1. Áp lực tâm lý lớn nhất mà người chăm sóc thay thế tại Làng SOS Hà Nội gặp phải là gì?

Người chăm sóc chịu áp lực kép từ việc quản lý 10 đến 13 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt cùng các biến đổi tâm sinh lý lứa tuổi tiền mãn kinh khi 48,9% người chăm sóc ở độ tuổi 40–50. Sự tích tụ cảm xúc kéo dài dễ dẫn đến kiệt sức nếu thiếu can thiệp kịp thời.

  1. Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người chăm sóc thay thế tại cơ sở tập trung vào nội dung nào?

Khảo sát ghi nhận 83,0% người chăm sóc có nhu cầu tham vấn quan hệ gia đình, 80,9% cần tham vấn quan hệ đồng nghiệp và 78,7% có nhu cầu tham vấn giải tỏa bế tắc tinh thần, khẳng định tính cấp bách của các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp.

  1. Trình độ học vấn cao của người chăm sóc thay thế mang lại lợi thế gì cho quá trình can thiệp?

Với 48,9% người chăm sóc đạt trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, đối tượng nghiên cứu có khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tâm lý rất nhanh. Đây là nền tảng thuận lợi để triển khai các liệu pháp nhận thức - hành vi và kỹ năng tự điều chỉnh cảm xúc.

  1. Hoạt động huy động nguồn lực đóng góp như thế nào vào việc ổn định tâm lý cho người chăm sóc?

Huy động nguồn lực giúp kết nối chuyên gia tâm lý tình nguyện, mở rộng tài trợ kinh phí và tổ chức các chuyến nghỉ dưỡng định kỳ. Hoạt động này tạo môi trường thư giãn ngoài công việc, giúp 100% người chăm sóc giảm bớt áp lực đời sống thường nhật.

  1. Chính sách hiện hành đã bao quát việc hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc thay thế chưa?

Các chính sách như Nghị định số 762/VBHN-BLĐTBXH và Luật Trẻ em 2016 chủ yếu tập trung vào định mức trợ cấp sinh hoạt và dạy nghề. Quy định về chăm sóc sức khỏe tâm thần định kỳ cho người nuôi dưỡng vẫn cần tiếp tục được thể chế hóa cụ thể hơn.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện thực trạng tâm lý của 47 người chăm sóc thay thế đang trực tiếp nuôi dưỡng 211 trẻ tại 16 ngôi nhà gia đình Làng trẻ em SOS Hà Nội.
  • Công trình chứng minh 83,0% người chăm sóc có nhu cầu cấp thiết về tham vấn quan hệ gia đình và 78,7% cần can thiệp giải tỏa căng thẳng, bế tắc cảm xúc.
  • Phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 40–50 (chiếm 48,9%) và các rào cản trong môi trường làm việc 24/7.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp tham vấn chuyên nghiệp, đào tạo kỹ năng sống và huy động nguồn lực xã hội hóa.
  • Cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác phục vụ việc hoàn thiện chính sách an sinh và tiêu chuẩn nghề công tác xã hội theo Luật Trẻ em 2016.

Đóng góp chính của luận văn là đã tiên phong lượng hóa nhu cầu sức khỏe tâm thần của đội ngũ người chăm sóc thay thế tại Việt Nam. Lãnh đạo các cơ sở trợ giúp xã hội cần triển khai ngay mô hình tham vấn tâm lý định kỳ trong kế hoạch hoạt động giai đoạn 2021–2025. Hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng các giải pháp công tác xã hội thiết thực vào công tác quản trị và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.