Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm doanh nghiệp Ở Việt Nam trước đây, trong nền kinh tập trung quan liêu bao cấp, định nghĩa về doanh nghiệp chưa được đề cập trong các đạo luật. Trong thời kỳ đó, “doanh nghiệp” tồn tại dưới hình thức các công ty, xí nghiệp do nhà nước đầu tư vốn và tổ chức, quản lý mọi hoạt động.
Các doanh nghiệp trong thời kỳ này hoạt động theo chỉ tiêu, kế hoạch được giao, thiếu tính chủ động và không đặt nặng hiệu quả kinh tế. Sau Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Doanh nghiệp ngày nay là những chủ thể kinh doanh độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư tuân theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, không còn chịu sự áp đặt về chỉ tiêu, kế hoạch của nhà nước.
Mặt khác, tuy được giao quyền chủ động trong tổ chức, hoạt động nhưng như thế không có nghĩa doanh nghiệp không chịu sự quản lý, ràng buộc nào từ phía nhà nước, doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ “luật chơi” chung, chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động của mình. Ở nước ta, định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp lần đầu tiên được đề cập trong một đạo luật là Luật Công ty 1990: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” [22]. Đến khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành, định nghĩa về doanh nghiệp được hiểu như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh [23]. Trong đó, “kinh doanh là việc thực hiện một, một số 10 hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [23].
Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [24]. Như vậy, trong mỗi giai đoạn, định nghĩa về doanh nghiệp có thể có một số điểm khác nhau nhưng vẫn có điểm chung nhất là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động nhằm mục đích kinh doanh, vì mục tiêu lợi nhuận. Đây cũng chính là đặc điểm phân biệt cơ bản giữa doanh nghiệp và các thực thể xã hội mang tính tổ chức khác. “Nhìn từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư cách chủ thể pháp lý độc lập) và có nghề nghiệp kinh doanh”.
“Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh” [47]. “Từ góc độ kinh tế - xã hội, doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội. Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể kinh tế - xã hội, được sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh”. “Các yếu tố của môi trường kinh tế - xã hội (như cơ chế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp, trình độ dân trí, phong tục tập quán, triết lý sống, văn hóa kinh doanh .) đều có tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ở những phương diện và mức độ khác nhau [47].
Doanh nghiệp là thành tố cơ bản, chủ yếu của hệ thống kinh tế - xã hội với chức năng chủ yếu là tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, nhằm mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp là các chủ thể đóng góp nhiều nhất cho tổng sản phẩm quốc gia - GDP, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước như xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo ổn định xã hội, phát triển khoa học công nghệ, mở rộng quan hệ quốc tế. Như vậy, ngày nay doanh nghiệp không chỉ là chủ thể chính cung cấp các lợi ích vật chất cho xã hội, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát 11 triển theo hướng đáp ứng ngày càng hoàn hảo hơn nhu cầu hưởng thụ, nhu cầu phát triển, nhu cầu thể hiện bản thân và các nhu cầu ngày càng đa dạng khác của con người. Hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao vị thế của nền kinh tế, của quốc gia trong các quan hệ quốc tế.
Với vai trò đó, doanh nghiệp xứng đáng được sự hỗ trợ nhiều mặt từ phía nhà nước để có điều kiện phát triển, trong đó có sự hỗ trợ về mặt pháp lý. Đây là một nhu cầu thiết thực, vừa đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho nền kinh tế nói chung. Pháp luật về doanh nghiệp và kinh doanh, thương mại Trong tổ chức và hoạt động của mình, doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, chế định pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau như Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đất đai, Luật Cạnh tranh, Luật tài chính, Luật Kế toán, Luật Đầu tư, Luật Lao động. “Hiểu theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp là các quan hệ pháp luật về tổ chức doanh nghiệp.
Căn cứ vào quá trình tồn tại của doanh nghiệp, có thể xác định pháp luật về doanh nghiệp điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong các giai đoạn sau: gia nhập thị trường; quản trị doanh nghiệp; rút khỏi thị trường” [47]. Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc ra đời, tổ chức và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp (pháp luật về doanh nghiệp), hiểu theo nghĩa hẹp, gồm các nhóm quy phạm pháp luật phát sinh trong các giai đoạn sau đây của doanh nghiệp: (i) Gia nhập thị trường (thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh); (ii) Quản trị doanh nghiệp; (iii) Rút khỏi thị trường (giải thể, phá sản. Khi tham gia thị trường, doanh nghiệp chịu sự tác động của hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, và trong các hoạt động kinh doanh, thương mại của doanh nghiệp, gồm các nhóm quy phạm tiêu biểu sau đây: - “. Các quy định điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước và thị trường, nhà nước và doanh nghiệp;.
12 - Các quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc tạo lập hạ tầng kinh tế, xã hội “cứng” và “mềm” của kinh tế thị trường như: pháp luật về hệ thống tài chính; tiền tệ, tín dụng; bảo hiểm; pháp luật về các ngành kinh tế - kỹ thuật .; pháp luật về dạy nghề; tư vấn, dịch vụ pháp lý. - Các quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành các yếu tố của thể chế kinh tế thị trường như các loại thị trường (thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường tài chính .); các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp, hộ kinh doanh .), các cơ chế thực thi thể chế kinh tế thị trường (cơ chế cạnh tranh, cơ chế giám sát, đánh giá. - Các quy định đảm bảo cho các nhân tố của kinh tế thị trường vận hành theo các nguyên tắc của thị trường. - Các quy định khuyến khích, hỗ trợ kinh tế phát triển: chính sách pháp luật về ưu đãi đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Pháp luật về giải quyết xung đột, tranh chấp lợi ích trong kinh doanh” [19]. Các mối quan hệ phát sinh trong các lĩnh vực nêu trên giữa doanh nghiệp với đối tác, giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm chung về pháp luật doanh nghiệp và kinh doanh, thương mại như sau: Pháp luật về doanh nghiệp và kinh doanh, thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình ra đời, tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, với tư cách là một thực thể xã hội, là chủ thể của các mối quan hệ đa dạng khi tham gia thị trường, doanh nghiệp còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật như Luật Hành chính, Luật Hình sự.
Doanh nghiệp, người quản lý điều hành doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của các ngành luật liên quan, chịu sự chế tài của các ngành luật này trong tổ chức, hoạt động, tham gia và rút khỏi thị trường. 13 Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật không còn là công cụ cai trị của nhà nước đơn thuần, mà thể hiện rõ nét là công cụ để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đồng thời cũng là công cụ để kiểm soát quyền lực nhà nước. Nói cách khác, nhà nước sử dụng pháp luật để kiểm soát, điều tiết các quan hệ xã hội, đồng thời các hoạt động của nhà nước cũng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Khoản 1, Điều 8 Hiến pháp 2013 của nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”.
Về phía doanh nghiệp, pháp luật là cơ sở hợp pháp của sự ra đời, tồn tại của doanh nghiệp, của các hoạt động đầu tư, kinh doanh; là căn cứ để doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời pháp luật cũng là công cụ để nhà nước quản lý, kiểm soát, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp. Trong thể chế kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp hình thành và phát triển. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng khóa XII đề ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội, nêu rõ: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.