Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò là xương sống và động lực tăng trưởng then chốt trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm tới hơn 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, đóng góp trên 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và giải quyết việc làm cho hơn 51% lực lượng lao động xã hội. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế năng động bậc nhất cả nước với quy mô dân số đạt 8.611.100 người vào năm 2017 – tinh thần khởi nghiệp luôn diễn ra mạnh mẽ. Riêng trong năm 2017, Thành phố ghi nhận gần 26.000 DNNVV thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 12.200 tỷ đồng, chiếm hơn 33,3% tổng số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước và tăng 17% so với năm 2016.

Tuy nhiên, thực tiễn khởi nghiệp của các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại và ngoại cảnh như thiếu vốn, hạn chế về mặt bằng sản xuất, năng lực công nghệ chưa cao và sự bất cập trong khâu thực thi chính sách hành chính. Tỷ lệ nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh trực tiếp tại cơ quan quản lý vẫn chiếm tới 73,3%, phản ánh những điểm nghẽn lớn trong hỗ trợ thủ tục ban đầu. Đứng trước yêu cầu đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ cơ sở lý luận pháp lý, đánh giá khách quan thực trạng áp dụng pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến năm 2017, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý trong bối cảnh Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 bắt đầu có hiệu lực thi hành. Luận văn hướng đến việc hỗ trợ thị trường lao động hấp thu khoảng 1,5 triệu người gia nhập mỗi năm, đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng 500.000 doanh nghiệp hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh và tối thiểu 1.000.000 doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về vai trò kiến tạo và điều tiết kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh việc bảo đảm bình đẳng pháp lý giữa các thành phần kinh tế và khắc phục những thất bại của thị trường đối với nhóm chủ thể yếu thế. Đồng thời, đề tài tiếp cận lý thuyết hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, xem sự phát triển của doanh nghiệp là kết quả tương tác chặt chẽ giữa thể chế chính sách, nguồn vốn tài chính, vườn ươm công nghệ và nguồn nhân lực. Trên bình diện quốc tế, kinh nghiệm từ Liên minh Châu Âu với hơn 20 triệu DNNVV chiếm 99% tổng số doanh nghiệp và Hoa Kỳ với khu vực DNNVV tạo ra 65% việc làm tư nhân cho thấy việc xây dựng khung pháp lý hỗ trợ là xu thế tất yếu.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ bốn thuật ngữ cốt lõi:

  1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xác định theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 38/2018/NĐ-CP, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
  2. Khởi nghiệp: Quá trình hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh từ giai đoạn phát hiện cơ hội, đăng ký thành lập đến vận hành và duy trì doanh nghiệp.
  3. Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV: Tổng hòa các biện pháp quy phạm và chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi về tài chính, mặt bằng, công nghệ, thông tin và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mới thành lập.
  4. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo: Các DNNVV được thành lập nhằm thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới có tiềm năng tăng trưởng nhanh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Tác giả thu thập và xử lý toàn diện bộ dữ liệu thứ cấp gồm 148.886 doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2015, kết hợp dữ liệu thống kê của gần 26.000 doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2017 do Sở Kế hoạch và Đầu tư cung cấp. Hệ thống dữ liệu pháp lý bao gồm các văn bản luật từ Luật Doanh nghiệp năm 2005, 2014, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 cùng các Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP.
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích và mẫu điển hình tập trung vào các DNNVV thuộc các ngành kinh tế then chốt tại Thành phố Hồ Chí Minh, với cơ cấu gồm 43% doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và 57% thuộc lĩnh vực thương mại, phân phối, dịch vụ.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc phối hợp phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp lý cùng phương pháp so sánh luật học và thống kê mô tả giúp đối chiếu sâu sắc giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thi hành, nhận diện chính xác các khoảng trống pháp lý và xung đột quy định.
  • Timeline nghiên cứu: Dữ liệu thực nghiệm và hệ thống pháp luật được khảo sát, tổng hợp liên tục trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến đầu năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh làm nổi bật bốn phát hiện cốt lõi sau:

Thứ nhất, quy mô và số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp ghi nhận sự gia tăng vượt bậc. Từ 78.022 doanh nghiệp đăng ký vào năm 2009, con số này đã tăng lên 148.886 doanh nghiệp vào năm 2015 (tăng trưởng 90,82%). Đến năm 2017, Thành phố có gần 26.000 doanh nghiệp thành lập mới (tăng 17% so với năm 2016), chiếm hơn một phần ba tổng số doanh nghiệp mới của cả nước, khẳng định vị thế đầu tàu khởi nghiệp.

Thứ hai, thủ tục hành chính về đăng ký thành lập doanh nghiệp còn nhiều bất cập và phát sinh chi phí không chính thức. Tỷ lệ đăng ký hồ sơ trực tiếp tại Phòng Đăng ký kinh doanh vẫn chiếm tới 73,3%, trong khi tỷ lệ đăng ký trực tuyến chỉ chiếm 26,7%. Tình trạng cán bộ hướng dẫn chưa nhất quán khiến người dân phải rút hồ sơ chỉnh sửa nhiều lần (thực tế có trường hợp lên tới 15 lần), làm chi phí lệ phí bị đội từ mức quy định 200.000 đồng lên tới 3.000.000 đồng cho một quy trình thành lập hoàn tất.

Thứ ba, mức độ đóng góp ngân sách lớn nhưng chính sách hỗ trợ tài chính, thuế chưa phát huy tối đa hiệu quả. Thuế thu nhập doanh nghiệp đóng góp tỷ trọng rất lớn vào ngân sách: năm 2009 đạt 52.191 tỷ đồng (chiếm 19,3% tổng thu ngân sách, tương đương 3,15% GDP), năm 2010 đạt 62.297 tỷ đồng (chiếm 22,5% tổng thu, 4,15% GDP) và năm 2011 đạt 73.600 tỷ đồng (chiếm 22,4% tổng thu, 3,81% GDP). Dù vậy, các cơ chế ưu đãi thuế suất thấp hơn cho DNNVV và chế độ kế toán đơn giản cho doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định pháp luật vẫn chưa được triển khai đồng bộ ở cấp cơ sở.

Thứ tư, công cụ bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ mặt bằng sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động còn dè dặt, thiếu tiêu chí định lượng về phương án kinh doanh khả thi và thiếu chế tài xử lý khi quỹ từ chối bảo lãnh vô căn cứ. Chính sách hỗ trợ giá thuê mặt bằng với thời gian tối đa 05 năm tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung hầu như chưa đến được với nhóm doanh nghiệp tư nhân khởi nghiệp quy mô siêu nhỏ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành. Mặc dù số lượng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã được cắt giảm từ gần 2.000 ngành nghề (theo Luật Doanh nghiệp 2005) xuống còn 215 ngành nghề (theo Luật Đầu tư 2014), các rào cản kỹ thuật và điều kiện quy mô kinh doanh vẫn cản trở doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường bình đẳng.

So sánh với các nghiên cứu kinh tế - luật học giai đoạn trước, luận văn đã cập nhật và phân tích sâu những điểm mới mang tính bước ngoặt của Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, bao gồm 7 nhóm chính sách hỗ trợ chung và 3 chương trình hỗ trợ mục tiêu. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự dịch chuyển rõ nét qua cấu trúc số liệu: biểu đồ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp từ 78.022 (năm 2009) lên 148.886 (năm 2015) minh chứng cho sức sống của khu vực kinh tế tư nhân, trong khi bảng đối chiếu phương thức nộp hồ sơ (73,3% trực tiếp so với 26,7% qua mạng) thể hiện yêu cầu cấp bách phải số hóa toàn diện quy trình cung cấp dịch vụ công nhằm giảm thiểu thời gian và chi phí cho nhà khởi nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực tiễn, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị trọng tâm nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao hiệu quả hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV:

  1. Đẩy mạnh số hóa và minh bạch hóa thủ tục đăng ký kinh doanh: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ trì nâng cấp hệ thống đăng ký doanh nghiệp trực tuyến, phấn đấu nâng tỷ lệ hồ sơ nộp qua mạng từ 26,7% lên trên 80% trong giai đoạn 2018-2020. Ban hành quy định xử lý nghiêm tình trạng lạm quyền yêu cầu bổ sung hồ sơ nhiều lần, đồng thời chấm dứt hoàn toàn việc thu trùng lặp lệ phí 200.000 đồng khi người dân thực hiện quyền chỉnh sửa hồ sơ.

  2. Cải tổ cơ chế hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh tái cấu trúc Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV, chuẩn hóa quy trình thẩm định dựa trên phương án sản xuất kinh doanh khả thi và xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp thay vì phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Thiết lập mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng bảo lãnh cho DNNVV khởi nghiệp đạt từ 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2018-2022.

  3. Triển khai đồng bộ các gói ưu đãi thuế và bù giá mặt bằng sản xuất: Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Tài chính hướng dẫn thực hiện nghiêm quy định miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 03 năm cho DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần trích lập ngân sách địa phương thực hiện bù giá thuê đất với thời hạn hỗ trợ tối đa 05 năm cho các DNNVV hoạt động tại các cụm công nghiệp, khu công nghệ cao và khu ươm tạo doanh nghiệp.

  4. Xây dựng mạng lưới tư vấn viên và cơ sở ươm tạo khởi nghiệp sáng tạo: Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh thiết lập mạng lưới tư vấn viên pháp lý và hỗ trợ sở hữu trí tuệ, cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí hoặc giảm phí cho tối thiểu 10.000 lượt doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hàng năm từ nay đến năm 2025, tạo tiền đề vững chắc hoàn thành mục tiêu 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các cơ quan như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, UBND Thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng luận văn làm cơ sở thực tiễn để rà soát, cắt giảm 215 ngành nghề kinh doanh có điều kiện và ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 sát với thực tiễn cơ sở.

  2. Cộng đồng chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nhà sáng lập: Các cá nhân khởi nghiệp và hơn 26.000 chủ doanh nghiệp mới hàng năm có thể nắm bắt rõ ràng các quyền lợi pháp lý về miễn giảm thuế môn bài trong 03 năm, quy trình hỗ trợ tiếp cận Quỹ phát triển DNNVV và thủ tục chuyển đổi từ hộ kinh doanh cá thể lên doanh nghiệp chính quy.

  3. Các tổ chức tín dụng, Quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ đầu tư mạo hiểm: Các định chế tài chính có thể tham khảo khung pháp lý về đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (với tỷ lệ góp vốn không quá 50% vốn điều lệ) để thiết kế các gói tài trợ tín dụng tín chấp và quy trình giải ngân vốn an toàn, hiệu quả.

  4. Giảng viên, chuyên gia nghiên cứu và học viên ngành Luật Kinh tế: Tài liệu cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh tế - pháp lý, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và kinh nghiệm lập pháp quốc tế phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo pháp luật hiện hành được quy định như thế nào? Theo Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 và Nghị định số 38/2018/NĐ-CP, DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động không quá 10 người và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng (riêng lĩnh vực thương mại, dịch vụ doanh thu không quá 10 tỷ đồng).

  2. Hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp nhỏ và vừa nhận được những hỗ trợ pháp lý nào? Căn cứ Điều 16 Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, hộ kinh doanh hoạt động liên tục ít nhất 01 năm khi chuyển đổi lên doanh nghiệp được miễn lệ phí đăng ký kinh doanh và phí công bố thông tin lần đầu; miễn lệ phí môn bài trong 03 năm đầu; được tư vấn miễn phí về thủ tục hành chính thuế, chế độ kế toán đơn giản trong 03 năm và miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn.

  3. Cơ chế cấp bảo lãnh tín dụng cho DNNVV khởi nghiệp được thực hiện dựa trên cơ sở nào? Căn cứ Điều 9 Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, Quỹ bảo lãnh tín dụng thực hiện cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp dựa trên tài sản bảo đảm, phương án sản xuất kinh doanh khả thi hoặc kết quả xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp. Quỹ có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết bảo lãnh và không được tùy tiện từ chối doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

  4. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhận được vốn đầu tư từ ngân sách địa phương theo điều kiện gì? Theo Điều 18 Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, căn cứ ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông qua việc lựa chọn các quỹ đầu tư khởi nghiệp. Khoản vốn từ ngân sách địa phương không vượt quá 30% tổng vốn huy động được và cơ quan quản lý phải tiến hành chuyển nhượng vốn đầu tư cho nhà đầu tư tư nhân trong thời hạn 05 năm.

  5. Vì sao tỷ lệ nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh trực tiếp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2017 lại ở mức cao? Số liệu khảo sát cho thấy tỷ lệ nộp trực tiếp chiếm tới 73,3% do hệ thống công nghệ thông tin chưa đồng bộ, tâm lý muốn nhận kết quả trực tiếp của người dân và quy trình hướng dẫn trực tuyến còn phức tạp. Tình trạng cán bộ yêu cầu sửa đổi hồ sơ nhiều lần khiến doanh nghiệp phải đóng lặp lại lệ phí 200.000 đồng, gây cản trở tốc độ gia nhập thị trường.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện vai trò của hơn 97% DNNVV đóng góp hơn 40% GDP và 51% lực lượng lao động xã hội, khẳng định vị thế trung tâm khởi nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh với gần 26.000 doanh nghiệp thành lập mới năm 2017.
  • Hệ thống hóa sâu sắc khung pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp từ Hiến pháp đến Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP.
  • Nhận diện chính xác các rào cản thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2017, đặc biệt là tỷ lệ 73,3% hồ sơ nộp trực tiếp và sự kém hiệu quả của Quỹ bảo lãnh tín dụng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm nâng tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến lên trên 80%, cải tổ bảo lãnh tín dụng đạt mức tăng trưởng 15-20%/năm, áp dụng miễn thuế môn bài 03 năm và hỗ trợ mặt bằng sản xuất tối đa 05 năm.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc hướng tới mục tiêu phát triển 500.000 doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và 1.000.000 doanh nghiệp toàn quốc vào năm 2020.

Đóng góp chính của luận văn là đã thiết lập một hệ thống luận cứ khoa học pháp lý - kinh tế hoàn chỉnh, chỉ rõ phương hướng hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho cộng đồng khởi nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2018 đến 2025, việc theo dõi và đánh giá hiệu quả thi hành Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 cần được thực hiện định kỳ. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và hiệp hội doanh nghiệp cần tích cực phối hợp để đưa các kiến nghị này vào thực tiễn quản trị, tạo bệ phóng vững chắc cho các doanh nhân trẻ kiến tạo giá trị kinh tế bền vững cho đất nước.