CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNHBIỂU TƯỢNG BẢN THÂN CHO TRẺ 3-4 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về tự nhận thức đã được tiến hành theo nhiều xu hướng khác nhau. Xu hướng 1: Nghiên cứu tự nhận thức trong mói quan hệ với “cái tôi” và “tự ý thức” Đại diện của xu hướng này là các nhà tâm lí học theo trường phái nội quan như A.
Vào đầu thế kỉ XX, A.Pfender đã xây dựng khái niệm tự ý thức từ sự phân biệt giữa “cái tôi” và “tự ý thức”. Theo ông tất cả các hiện tượng tâm lí là cảm xúc trực tiếp, nó đồng nhất với ý thức.Nhưng ở đây ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà là cái bên trong có sẵn.Chủ thể tâm lí xây dựng BTBT mình- hình ảnh của chính mình. Hình ảnh này có hạt nhân là cuộc sống quá khứ con người và ý thức về những khả năng hành động của con người. Còn ngoại biên của nó là tất cả những gì nằm ngoài tâm lí như thân thể, áo quần… Khi chính những hình ảnh đó trở thành đối tượng, nội dung của ý thức thì tự ý thức xuất hiện.Pfender cho rằng tự ý thức giống như màn ảnh mà trên đó phóng chiếu những BTBT của chủ thể tâm lí.
Cũng thuộc trường phái nội quan nhưng T.Lippx lại cho rằng “tình cảm cái tôi” là hạt nhân của mọi ý thức. “Cái tôi” ở đây chính là tự ý thức, là trung tâm của cuộc sống có ý thức, là nội dung cuẩ ý thức và theo đó các BTBT được tạo ra. Như vậy, theo T.Lippx ý thức và tự ý thức được biểu hiện như sự 6 7 phản ánh trực tiếp trong tâm lí, phân tích chúng chỉ có trong phạm vi tâm hồn và tình cảm thì hoàn toàn tách khỏi thế giới khách quan.Lippx có sự phân biệt đôi chút giữa tự ý thức vầ “cái tôi” thì E.Bobrov trong tác phẩm “Về tự ý thức” (1898) đã hoàn toàn đồng nhất chúng với nhau. Theo ông tự ý thức khép kín trong chính bản thân nó và quan hệ chỉ với chính mình.
Tự ý thức hay “cái tôi” có liên quan chặt chẽ với tất cả các thành phần khác của ý thức. Nhà tâm lí học Mĩ Kaken Hornej đã chú ý đến những hiện tượng tâm lí bên trong. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết: con người để che dấu những mâu thuẫn đã xây dựng những BT lý tưởng, không phù hợp với bản thân. Bà đã xây dựng khái niệm về “cái tôi thực tế”.
Đó là cái phần tôi cơ bản nhất,tốt nhất. Nhưng bà lại cho rằng điều kiện cuộc sống xã hội và giáo dục không phải là nguyên nhân phát triển “cái tôi thực tế”.Theo Kaken Hornej bản chất của tự ý thức được xuất hiện và phát triển từ bên trong. Xu hướng 2: Nghiên cứu sự phát triển tự nhận thức, tự ý thức trong quá trình phát triển của cá thể Nhà tâm lí học Liên Xô lỗi lạc A.Lêônchiep- người tìm ra cấu trúc vĩ mô của hoạt động trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” cũng đã đề cập đến vấn đề tự ý thức của con người. Ở đây, ông đã đưa ra chi tiết đặc trưng cho các giai đoạn hình thành BTBT đó là “Sự hình thành cái gọi là lược đồ thân thể, của khả năng định vị các cảm giác nội tạng của bản thân, về sự phát triển nhận thức vẻ bề ngoài của mình”.
Theo ông điều quan trọng cần phân biệt giữa sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình: “Ngay từ hồi còn rất bé, người ta cũng đã tích lũy được hững hiểu biết, những BT về bản thân. Còn ý thức bản ngã, ý thức về cái tôi của mình là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách”.Franz trong các công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng tự nhận thức là một thành phần của tự ý thức.Đó là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng với những kết quả của quá trình đó.Ông cũng đồng thời khẳng định đây là một quá trình phong phú và phức tạp được thực hiện thông qua những quá trình thành phần khác nhau.Các quá trình thành phần liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ tách ra một cách tương đối về mặt lí thuyết. Trong công trình “Vẫn đề tự ý thức trong tâm lí học” (1977), I.Trexnôcôva cũng đã khẳng định tự ý thức là một quá trình tâm lí phức tạp.Bản chất của nó chứa đựng trong sự nhận thức của cá nhân các hình ảnh của bản thân trong những điều kiện hoạt động khác nhau. Nó thể hiện trong liên kết các hình ảnh đó vào một cấu tạo thống nhất, trọn vẹn là BT, sau đó vào khái niệm “cái tôi” của chính mình.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức.
Cấu trúc đó gồm ba mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc- giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động ý chí, điều khiển (tự điều khiển, điều chỉnh). Trong tác phẩm này, I.Trexnôcôva đã phân tích quá trình tự ý thức trong sự phát triển cá thể, phân tích bản chất ba mặt của ý thức. Xu hướng 3: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tự nhận thức ở trẻ em Gesell trong các công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra 24 giai đoạn phát triển của trẻ mà sau này Osterrietth trình bày lại thành 7 giai đoạn.Trong mỗi giai đoạn tác giả đều đề cập đến vấn đề tự nhận thức của trẻ. Theo ông giai đoạn 3-5 tuổi là giai đoạn “ngoan ngoãn theo đuổi” khẳng định “cái tôi”, khẳng định sự làm chủ về vận động, sự khéo léo trong các động tác, sự phát triển ngôn ngữ.
Ông cho rằng trẻ 5 tuổi là mẫu người tiến bối của con người trưởng thành sau này. Một tác giả khác là M.Lixina trong cuốn “Tâm lí học trẻ em” đã chỉ ra rằng BTBT của trẻ phản ánh những nội dung khác nhau,ở những giai đoạn lứa 8 9 tuổi khác nhau. Nói chung, BTBT của trẻ mẫu giáo thường tốt hơn so với thực tế.Bôjôvich trong công trình “Các giai đoạn hình thành nhân cách ở cá thể” cũng đã đề cập đến vấn đề tự ý thức của trẻ.Bà cho rằng ở tuổi mẫu giáo, trẻ đã hình thành sự tự đánh giá nhất định nào đó.BTBT của trẻ được hình thành trong hoạt động và giao tiếp với mọi người xung quanh. Một đại diện khác của xu hướng này là A.Lêônchiep, người đã chỉ ra bản chất quá trình hình thành BTBT ở trẻ mẫu giáo.
Theo ông để có được biểu tượng đúng đắn, ban đầu đứa trẻ xác định các đặc điểm của người và của bản thân một cách cục bộ theo từng mặt tách biệt nhau. Nhưng về sau, cách đánh giá đó nhường chỗ cho cách đánh giá tổng quát, bao quát con người trong toàn bộ và tách bạch ra những nét bản chất của họ. Từ đó, ông khẳng định: “Cũng giống như bất cứ một sự nhận thức nào, sự tự nhận thức bản thân cũng bắt đầu từ việc tách bạch ra những thuộc tính hình thức bề ngoài và là kết quả của sự so sánh, phân tích, khái quát hóa, sự tách bạch ra cái bản chất” Xu hướng 4 : Nghiên cứu về quá trình tự nhận thức cho trẻ thông qua trò chơi Xuất phát từ việc thừa nhận tâm lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội, nhà tâm lý học Pháp P.Janet đã có bước tiến đáng kể trong nghiên cứu về bản chất của tự ý thức. Ông cho rằng trong hoạt động và giao tiếp, con người nhập tâm của tự ý thức.
Ông cho rằng trong hoạt động và giao tiếp, con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan hệ, thái độ đối với thế giới bên ngoài của người khác. Những phương thức hành vi được nhập tâm đó trở thành phương thức hành vi của chính mình. Như thế, tự ý thức – một thuộc tích cơ bản của nhân cách được hình thành trong các mỗi quan hệ xã hội phức tạp.Ở trẻ em, các mối quan hệ xã hội đó được thể hiện rõ nhất thông qua các TC.Qua các TC ấy, trẻ được giao tiếp, được hoạt động với các vai trò khác nhau. Dần dần, những phương thức ứng xử, hành vi của 9 10 người khác được trẻ nhập tâm và bắt chước.
Như thế, chính thông qua các mối quan hệ xã hội phức tạp của TC, trẻ nhận ra chính mình.Quan điểm này của P.Janet đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển các quan niệm duy vật về bản chất của ý thức.Mead, nhà tâm lý học Mĩ cũng đã khẳng định trong mỗi tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động, mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình. Ông cho rằng, nguồn gốc hình thành tự ý thức là TC của trẻ. Ban đầu, đó là những TC lặp lại hành động của người lớn, trong đó trẻ thực hiện các vai trò xác định. Sau đó trẻ chơi các trò chơi có luật lặp lại quan hệ của những người xung quanh với một hay nhiều người khác.
Trong loại TC này, trẻ năm được hành vi của chính mình, ở trẻ hình thành những BT sơ đẳng về bản thân, về khả năng và những phầm chất nhân cách của chính mình. Như vậy, có thể nói qua TC, BTBT được hình thành ở trẻ, cơ sở của tự ý thức được hình thành.Nghiên cứu trên của D.Mead đã chỉ rõ vai trò của các TC, đặc biệt là các dạng TCHT với sự hình thành BTBT của trẻ. Nhà tâm lý học Pháp Wallon đã đưa ra các giai đoạn phát triển của trẻ. Theo ông, giai đoạn từ 3 – 6 tuổi là giai đoạn hướng tâm, chủ quan với vị trí vượt trội của các hoạt động cá nhân xây đắp “ cái tôi”, của quan hệ tình cảm với môi trường con người.
Do đó, ở giai đoạn này trẻ chú trọng tới việc xây dựng tính cách hơn là việc xây dựng trí tuệ. Ông cho rằng các TC luân đổi đã giúp cho đứa trẻ ý thức được về bản thân nó. Sự hình thành nhân cách ở đứa trẻ, sự hình thành “ cái tôi” chỉ có thể được thực hiện qua sự trung gian của cái “ người khác” và được thực hiện thông qua các TC Đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ Jean Piaget với học thuyết “ cấu trúc trí tuệ” đã khằng định rằng TC của trẻ em có tính biểu trưng và chỉ được thực hiện được trong mỗi quan hệ với trình độ phát triển nhất định của trí tuệ.