CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1. Khái quát về việc sử dụng hình phạt tử hình trong lịch sử Hình phạt tử hình được hiểu là việc tước bỏ tính mạng của một người theo một bản án được tuyên bởi một tòa án được lập ra một cách hợp pháp, để trừng trị người đó vì đã phạm phải một trong các tội ác nghiêm trọng. Hình phạt này được áp dụng bởi Nhà nước bởi vậy khi một chủ thể phi nhà nước thực hiện hành vi “Hành quyết” bất kì một con người trong bất kì một hoàn cảnh nào chủ thể đó cũng có thể bị coi là phạm tội giết người. Thuật ngữ “Hình phạt tử hình” có tên tiếng Anh là capital punishment, được bắt nguồn từ tiếng La-tinh capitalis, trong đó gốc từ caput có nghĩa là cái đầu, với hàm ý rằng đầu là phần đầu tiên, không thể thiếu và nó gắn liền với tính mạng của con người, đối với hình phạt làm mất đầu nghĩa là tước bỏ đi tính mạng của một người.
o Hình phạt tử hình trong thời kỳ cổ đại • Hình phạt tử hình ở Phương Đông Thời kỳ này, ở Phương Đông đã sớm xuất hiện hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ sơ khai đầu tiên. Do được hình thành trên cơ sở điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng nhưng vô cùng khắc nghiệt và được xây dựng trên nền tảng chế độ thủ lĩnh độc đoán, gia trưởng với tín ngưỡng truyền thống và tôn giáo đa thần, coi người đứng đầu nhà nước là thánh nhân - con của các vị thần - có quyền uy và phép lạ, nhà nước và pháp luật ở các nước Phương Đông thời kỳ này thể hiện bản chất độc tài, chuyên chế, các quy phạm hình luật khắc nghiệt và cứng nhắc. Điều đó thể hiện rõ qua hai bộ luật của Phương Đông thời kỳ này là Bộ luật Hammurapi và Bộ luật Manu. Bộ luật Hammurapi là Bộ luật cổ nhất của người Babilon, được khắc vào thời vua Hammurapi (1792-1750 tr.
CN) trên một phiến đá bazan cao 2.25 m và đường kính đáy gần 2 m. Bộ luật có 282 điều, trong đó có nhắc tới 32 trường hợp bị xử tử hình đối với phạm nhân1. Các điều luật về hình sự thể hiện rõ tính báo thù với quan niệm 1 Nguyễn Ngọc Đào chủ biên, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr. 4 mức hình phạt phải luôn tương xứng với mức độ tội ác.
Điều 229 Bộ luật này quy định: “Nếu người thợ xây, xây nhà cho một người khác mà người thợ xây không chắc chắn để nhà đổ và chủ nhà bị chết, người thợ xây đó bị giết”. Hay Điều 1 và Điều 3 quy định: “kẻ nào buộc tội vô cớ về tội giết người cho người khác thì chính kẻ đó bị giết”; “nếu ai chứa chấp hay giúp đỡ nô lệ chạy trốn thì cũng bị tội chết”2Hình thức thi hành hình phạt tử hình thời kỳ này rất khắc nghiệt như đốt, dìm dưới nước hoặc đóng cọc. Vào khoảng thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ I tr. CN, ở Ấn Độ cổ đại, các giáo sĩ Bàlamôn đã soạn ra các luật Manu.
Tên gọi Manu được lấy từ tên của vị thần sinh ra con người theo truyền thuyết Ấn Độ. Các luật Manu gồm 2.650 điều, chia làm 12 chương, được trình bày dưới dạng câu song vần. Về hình luật, trong các luật Manu thể hiện rõ tính giai cấp và sự khắc nghiệt. Các đẳng cấp dưới như Vaisia và Sudra không được hưởng sự khoan dung, mọi vi phạm do họ gây ra đều phải chịu hình phạt rất nặng như bị cắt lưỡi, bị đổ dầu đun sôi vào miệng.
Trong khi đó, đẳng cấp Bàlamôn và Kxatơria nếu vi phạm như kẻ dưới thì chỉ bị phạt tiền. Luật Manu trừng phạt rất nặng hành vi xâm phạm sở hữu: trộm cắp đến lần thứ 3 thì bị tử hình, nếu trộm cắp vào ban đêm thì bị đóng cọc, trộm cắp tài sản của nhà vua hay nhà chùa thì bị giết ngay lập tức. Tội cướp được coi như tội phạm đặc biệt. Nếu cướp công khai và có sử dụng bạo lực đối với người bị hại thì “bị giết cùng với bạn bè và người thân theo họ bố và họ mẹ”.
Tội giết người ít được nói tới trong các luật Manu, nhưng trong luật Arhasastra thì nêu rõ: “Nếu kẻ nào dùng bạo lực giết đàn ông hoặc đàn bà. thì kẻ đó bị thiêu trên cọc”. Tội hiếp dâm cũng bị trừng trị như vậy. Kẻ nào vô ý làm chết người thì bị xử tử bằng cách thông thường3 Trong pháp luật Phương Đông cổ đại không phân định rõ ranh giới giữa hình luật, dân luật và luật tố tụng.
Các quy phạm hình luật thời kỳ này mang nặng tính trấn áp, báo thù, khắc nghiệt và tàn khốc. • Hình phạt tử hình ở Phương Tây Bộ luật nổi tiếng và điển hình cho pháp luật phương Tây thời cổ đại là luật La Mã. Trong thời kỳ cộng hòa sơ kỳ, do phong trào đấu tranh của bình dân nên 2 Hoàng Thị Bích Thảo, Hình phạt tử hình trong BLHS 1999, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Tp. 3 Nguyễn Ngọc Đào chủ biên, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 , tr.
CN, một ủy ban biên soạn pháp luật được thành lập gồm 5 quý tộc và 5 bình dân. Sau một năm làm việc, ủy ban này đã soạn thảo xong bộ luật và được ghi trên 12 bảng đồng đặt tại quảng trường thành phố (nên còn gọi là Luật 12 bảng). Bộ luật này phản ánh sâu sắc quan hệ kinh tế và xã hội giai đoạn đầu của nhà nước cộng hòa La Mã: vẫn thừa nhận hình thức trả thù ngang bằng (đây là tàn dư của chế độ thị tộc), thừa nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản. Trong Luật 12 bảng, các chế định liên quan đến hình sự chủ yếu bảo vệ quyền sở hữu của giai cấp quý tộc: nếu đánh gãy tay người khác thì thủ phạm cũng bị đánh gãy tay.
Kẻ nào xâm phạm tài sản của người khác như đốt nhà, trộm cắp, phá hoại hoa màu thì sẽ bị xử tử. Nếu kẻ nào đang đêm ăn trộm mà bị giết ngay tại chỗ thì hành vi giết người ấy được coi là hợp pháp (Bảng 8 Điều 12). Điều kiện để đảm bảo hợp đồng vay nợ là thịt, da và máu của con nợ. Nếu con nợ không trả nợ đúng hạn thì Tòa án cho phép chủ nợ có quyền tạm giữ con nợ.
Nếu quá 60 ngày mà không trả được nợ thì chủ nợ có thể xẻo thịt thân thể con nợ, chủ nợ không phải chịu trách nhiệm về việc con nợ bị xẻo thịt nhiều hay ít. Sau đó nếu con nợ vẫn không trả được nợ thì bị kết án tử hình. Trường hợp con nợ vay nợ của nhiều người, các chủ nợ băm con nợ ra thành nhiều mảnh (Bảng 3 Điều 6). Những quy định này bảo vệ tuyệt đối quyền sở hữu của giai cấp quý tộc, đồng thời đó cũng là mối đe dọa khủng khiếp đối với người lao động nghèo khổ ở La Mã.
Đến thời kỳ cộng hòa hậu kỳ, nền luật học La Mã đã bước sang giai đoạn thịnh vượng nhất, Luật 12 bảng trở nên lạc hậu, nguyên tắc công bằng, bình đẳng trước pháp luật đã dần dần được chấp nhận. Các chế định về luật dân sự trong thời kỳ này rất phát triển. Về hình sự, phần lớn các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh các quan hệ chính trị. Ví dụ: trong thời kỳ độc tài Xila, những người bị ghi vào danh sách “kẻ thù của nhân dân” thì bất kỳ người dân La Mã nào cũng có thể giết.
Hình phạt tử hình thời kỳ này vẫn mang tính chất cực hình và ô nhục, tùy thuộc vào giai cấp mà hình phạt được áp dụng theo cách thức khác nhau: nếu quý tộc và binh lính thì bị chém bằng gươm, dân tự do bị chết thiêu hoặc cho ngựa xé, còn nô lệ thì bị giết chết dần rất khủng khiếp như đóng cọc xuyên qua người, dìm xuống nước cho đến chết4. o Hình phạt tử hình thời kỳ trung đại 4 Nguyễn Ngọc Đào chủ biên, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr. 69-75 6 Trong thời kỳ này, ở Phương Đông, pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc phát triển mạnh và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia trong khu vực (Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.), đó là sự xuất hiện các học thuyết pháp lý như thuyết nhân trị của Khổng Tử, thuyết pháp trị của Quản Trọng, Tử Sản và Hàn Phi Tử. Tùy thuộc vào từng triều đại bị ảnh hưởng bởi thuyết nhân trị hay thuyết pháp trị mà tính nghiêm khắc của hình phạt trong luật hình sự được thể hiện ở các mức độ khác nhau.
Nhưng nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều quy định hệ thống hình phạt “ngũ hình” bao gồm các hình phạt: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Trong đó hình phạt tử hình có ba bậc: chém hay thắt cổ; chém bêu đầu và lăng trì. Hình phạt chém bêu đầu có nguồn gốc tại Trung Quốc và có lịch sử trên 3. CN, Trụ Vương đã bị Võ Vương giết rồi bêu đầu trên một lá cờ trắng) và nó còn tồn tại trong bộ “Đại Thanh luật lệ” được vua Càn Long ban hành năm 1740.
Hình phạt lăng trì (tùng xẻo) được thi hành bằng cách xẻo từng miếng thịt phạm nhân theo nhịp trống rồi mổ bụng, moi ruột cho đến chết. Sau đó, thi thể tử tội bị chặt chân tay và bẻ gãy hết xương5. Ngoài ra, nhà nước phong kiến Trung Quốc còn áp dụng các hình phạt như tru di tam tộc, tru di cửu tộc. Các hình phạt này chủ yếu áp dụng cho tội phản nghịch, mang tính ác nghiệt, man rợ và tàn khốc.
Ở Phương Tây, thời kỳ này, luật hình sự vẫn cho phép duy trì tục “trả nợ máu”. Theo Bộ luật Xalic: khi phạm tội giết người, nếu người phạm tội là kẻ nghèo hèn đến mức không đủ tiền nộp phạt và không có họ hàng thì “phải lấy đầu mình ra để thay thế”. Còn theo Bộ luật Xắc-xông thì đối tượng của việc trả nợ máu là “kẻ giết người và các con trai của người ấy”.