Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm từ thực tiễn thành phố Hà Nội" thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự. Công trình tập trung giải quyết các vấn đề lý luận, phân tích quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về quyết định hình phạt đối với người thực hiện nhiều tội phạm tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tính cấp thiết của đề tài được tác giả luận án luận giải thông qua ba phương diện chính:

  • Thứ nhất, từ thực tiễn xã hội và tình hình tội phạm: Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ xã hội phát triển đan xen phức tạp kéo theo sự gia tăng của tình hình tội phạm, đặc biệt là các hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm, phạm nhiều tội và phạm tội từ 02 lần trở lên. Lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất về định tội danh và căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm.
  • Thứ hai, từ quá trình phát triển và hoàn thiện lập pháp hình sự: Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam qua các thời kỳ (BLHS 1985, BLHS 1999 và BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những bước chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, các quy định liên quan đến định tội danh và căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.
  • Thứ ba, từ thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án: Quyết định hình phạt là hoạt động tư pháp giữ vai trò xác định loại và mức hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Thực tiễn xét xử tại các Tòa án nhân dân cho thấy hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm thường gặp khó khăn và xảy ra sai sót (như định tội sai, bỏ lọt tội phạm, áp dụng hình phạt quá nặng, quá nhẹ hoặc oan sai), trong đó tỷ lệ các vụ án bị áp dụng hình phạt không chính xác ở trường hợp nhiều tội phạm chiếm mức độ cao hơn so với trường hợp đơn tội phạm thông thường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo luật hình sự Việt Nam; khảo sát thực trạng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, từ đó làm rõ kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng đắn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, xác định các nội dung kế thừa và các vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ.
    2. Làm rõ những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt, nhiều tội phạm và quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm.
    3. Đánh giá khái quát và phân tích nội dung các quy định của pháp luật hình sự hiện hành; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
    4. Xác định các yêu cầu và đề xuất các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    • Câu hỏi 1: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm là gì, có đặc điểm gì khác với quyết định hình phạt đối với vụ án đơn tội phạm?
    • Câu hỏi 2: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã được đảm bảo chưa? Có ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân gì?
    • Câu hỏi 3: Cần có giải pháp nào để Tòa án quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt hiệu quả?
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm qua thụ lý nhiều vụ án nhiều tội phạm phức tạp nên việc quyết định hình phạt còn lúng túng do thiếu nhận thức về lý luận và thực tiễn, đặt ra yêu cầu phải tăng cường hiệu quả quyết định hình phạt.
    • Giả thuyết 2: Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng quá trình quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm vẫn còn bất cập, thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện.
    • Giả thuyết 3: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng xét xử nhưng hiệu quả chưa cao, cần tìm ra các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, bao gồm các vấn đề lý luận chung, hệ thống điều luật, quy định, chế định pháp luật thực định và thực trạng hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Các Tòa án nhân dân hai cấp thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội.
    • Thời gian: Tập trung khảo sát, thu thập số liệu và hồ sơ xét xử trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế

Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu theo ba nhóm chủ đề:

1. Nhóm nghiên cứu về nhiều tội phạm

  • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Mai Bộ (1995) với bài "Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội" (Tạp chí Tòa án); Võ Khánh Vinh và Lê Văn Đệ (1999) với bài "Tổng hợp thực tế về phạm nhiều tội, một hình thức biểu hiện của chế định phạm nhiều tội" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12); Lê Cảm (2001) với bài "Chế định đa (nhiều tội phạm) và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam" (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật); TS. Lê Văn Đệ (2004) với "Các hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
  • Sách chuyên khảo và giáo trình: GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2008), "Tội phạm và cấu thành tội phạm" (NXB Công an nhân dân); TS. Lê Văn Đệ (2010), "Chế định nhiều tội phạm, những vấn đề lý luận và thực tiễn" (NXB Công an nhân dân); PGS. Trịnh Tiến Việt (2013), "Tội phạm và trách nhiệm hình sự" (NXB Chính trị quốc gia – Sự thật); Đinh Thế Hưng và TS. Trần Văn Biên với "Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015"; Nguyễn Ngọc Anh (2008), "Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân); Hoàng Mạnh Hùng, "Giáo trình định tội danh và áp dụng hình phạt" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội); GS.TS. Võ Khánh Vinh (2006), "Giáo trình luật thi hành án hình sự Việt Nam" và "Giáo trình Áp dụng pháp luật hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn" (NXB Khoa học xã hội, 2021).
  • Luận án, luận văn liên quan: Cao Thị Oanh (2008), Luận án tiến sĩ "Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự" (Đại học Luật Hà Nội); Võ Khánh Linh (2017), Luận án tiến sĩ "Xã hội học hình phạt. Những vấn đề lý luận và thực tiễn"; Lê Văn Đệ (2003), Luận án tiến sĩ "Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam"; Nguyễn Đình Chiến (2003), Luận án tiến sĩ nghiên cứu về quan hệ nhân quả và phòng ngừa tội phạm kinh tế; Đặng Phú Lâm, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế định phạm nhiều tội tại tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Nhóm nghiên cứu về quyết định hình phạt

  • Công trình cấp tiến sĩ và sách chuyên khảo: Dương Tuyết Miên (2003), Luận án tiến sĩ "Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" (nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ về khái niệm, vai trò, nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt); Nguyễn Sơn (2003), Luận án tiến sĩ "Các hình phạt chính trong LHS Việt Nam" (Viện Nhà nước và Pháp luật, tiếp cận hình phạt như một hiện tượng xã hội); Lê Văn Cảm (2005), "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Việt Nam (Phần chung)"; GS. Đào Trí Úc chủ biên (1994), "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam"; GS. Võ Khánh Vinh (1994), "Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam"; Đề tài cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao do TS. Đặng Quang Phương làm chủ nhiệm (1996) về nâng cao hiệu quả các hình phạt không phải là tù và tử hình; Đinh Văn Quế (2000, 2010) với các sách bình luận khoa học và tìm hiểu về tội phạm, hình phạt; GS. Võ Khánh Vinh (2013), "Giáo trình Lý luận chung về định tội danh" (Chương IX chuyên sâu về định tội danh trong trường hợp nhiều tội phạm).
  • Các bài viết tạp chí: Võ Khánh Vinh và Nguyễn Văn Hoàn (1994), "Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội" (Tạp chí Luật học); PGS. Nguyễn Mạnh Kháng (2002), "Quan điểm tiếp cận hiệu quả của hình phạt" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật); TS. Nguyễn Minh Khuê (2014, 2015) với các bài viết về hiệu quả hình phạt chính, chi phí xã hội và quan hệ giữa tự do và hình phạt.

3. Nhóm nghiên cứu quốc tế

  • Các báo cáo và sách chuyên khảo: Báo cáo "Các hình phạt thay thế và việc quyết định hình phạt" (Sentencing and alternative punishment) so sánh 5 loại hình phạt không tước tự do tại 7 quốc gia (Đức, Nhật Bản, Sri Lanka, Jamaica, Nepal, Palestine, Guatemala); Russil Durrant (2013), An Introduction to Criminal Psychology (NXB Routledge); Tài liệu Hội nghị quốc tế năm 2012 với các tham luận của Ugljesa Zvekic, Robert Harris, Joseph K. Gitau, Wolfgang Rau; Báo cáo tọa đàm của 5 nước (Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, Maldives, Nam Phi) về các hình phạt cộng đồng thay thế tù giam; Tài liệu pháp luật của Kudrjavxev (1972), Kurivov B.A (1965, 1984), G. Michel (Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ, bản dịch Nguyễn Hán Khả); Sách về chính sách án phạt tại Canada (2008), sách nghiên cứu tư pháp hình sự (2005) và trừng phạt (2002).
  • Nghiên cứu về xử lý nhiều tội phạm: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tháng 12/2015 do Julian Roberts và Lyndon Harris giới thiệu (xuất bản năm 2017 bởi Đại học Oxford); Công trình của Jan de Keijser, Julian V. Roberts và Jesper Ryberg (2017), Sentencing for Multiple Crimes (NXB Đại học Oxford). Nhóm nghiên cứu quốc tế chỉ ra hai cách tiếp cận cơ bản khi tuyên phạt người phạm nhiều tội:
    1. Cách tiếp cận cộng dồn (chiến lược thuần túy): Xác định mức phạt cho từng tội riêng biệt rồi cộng tổng lại (dễ vi phạm nguyên tắc tương xứng khi một người phạm nhiều tội nhẹ phải chịu tổng hình phạt nặng ngang tội đặc biệt nghiêm trọng).
    2. Cách tiếp cận chiết khấu (tổng hợp/gộp hình phạt): Áp dụng hình phạt tối đa cho tội nặng nhất và các tội khác chấp hành đồng thời hoặc giảm trừ (gây tranh cãi vì làm suy giảm tính nghiêm minh đối với từng tội phạm cá nhân).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy:

  • Đa phần các công trình trước đây chỉ xem xét quyết định hình phạt như một phán quyết đơn thuần của Tòa án chứ chưa nhìn nhận toàn diện dưới góc độ một giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.
  • Các nghiên cứu về khái niệm, bản chất, các hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm (như phạm nhiều tội, phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm/tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) còn nhiều ý kiến bất đồng, chưa có sự thống nhất về mặt lý luận.
  • Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý

Luận án tiếp cận dựa trên hệ thống các khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Tội phạm: Tác giả phân tích các quan điểm của học giả quốc tế (Sue Titus Reid, David Brown et al., Edwin Sutherland & Donald Cressey, Larry J. Siegel) và học giả trong nước (GS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Đinh Thế Hưng, TS. Trần Văn Biên, PGS. Kiều Đình Thụ, PGS.TS. Phạm Văn Beo, GS.TSKH. Lê Văn Cảm) để đưa ra định nghĩa: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định được quy định trong BLHS đang có hiệu lực, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý), xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật bảo vệ.
  • Nhiều tội phạm: Khái quát từ 8 quan điểm trong khoa học luật hình sự Liên Xô/Nga (theo tổng thuật của GS.TSKH. Lê Cảm) và 2 quan điểm tại Việt Nam (GS. Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Lê Văn Đệ). Luận án xác định nhiều tội phạm là trường hợp một người thực hiện từ hai tội trở lên mà các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có trở ngại về mặt tố tụng hình sự.
  • Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm: Được hiểu theo hai cấp độ:
    • Nghĩa hẹp: Là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể (hình phạt chính và hình phạt bổ sung nếu có) trong phạm vi luật định áp dụng đối với người thực hiện nhiều tội phạm.
    • Nghĩa rộng: Bao gồm việc quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp chấp hành hình phạt và các biện pháp tư pháp thay thế hoặc hỗ trợ hình phạt.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích quy phạm và mô tả luật: Làm rõ nội dung, cấu trúc và mối liên hệ giữa các điều luật về tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt trong BLHS.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ (1985, 1999, 2015) và so sánh với pháp luật hình sự một số quốc gia (Nga, Nhật Bản, các nước châu Âu...).
    • Phương pháp lịch sử: Đánh giá sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về nhiều tội phạm theo tiến trình lập pháp.
    • Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, tổng hợp số liệu xét xử từ các bản án hình sự, báo cáo tổng kết thực tiễn của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021.
    • Phương pháp khảo sát, phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến thực tế từ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên để đánh giá vướng mắc thực tiễn.
    • Phương pháp diễn giải và quy nạp: Phân tích tình huống thực tế, lý giải nguyên nhân và rút ra các kết luận lý luận mang tính khái quát.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: BLHS năm 1985, 1999, 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006; Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019; Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019; Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019.
  • Dữ liệu thực tiễn: Các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này tập trung rà soát và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tội phạm, nhiều tội phạm, chế định hình phạt và quyết định hình phạt. Tác giả chỉ ra rằng đa số nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tập trung vào từng chế định riêng lẻ (như định tội danh, phân tích cấu thành tội phạm, hoặc tổng hợp hình phạt) mà chưa xây dựng một khung lý thuyết đồng bộ nhìn nhận quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm là một quy trình áp dụng pháp luật hình sự phức hợp. Tác giả xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết khoa học làm cơ sở triển khai các chương tiếp theo.

Chương 2. Những vấn đề lý luận và pháp luật của một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về nhiều tội phạm và quyết định hình phạt, phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế.

  • Bản chất của trường hợp nhiều tội phạm: Là vụ án có cấu trúc tội phạm phức tạp, xâm phạm nhiều khách thể, thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với phạm tội đơn lẻ. Hành vi có thể diễn ra độc lập, liên tục hoặc hành vi này là điều kiện/tiền đề của hành vi khác (theo tinh thần Công văn số 233/TANDTC-PC).
  • Hệ thống 4 hình thức của nhiều tội phạm:
    1. Phạm nhiều tội: Người phạm tội thực hiện từ hai tội phạm trở lên độc lập, được quy định tại các điều luật hoặc khoản luật khác nhau và chưa bị xét xử về tội nào (quy định tại Điều 55, Điều 56 BLHS năm 2015).
    2. Phạm tội nhiều lần (phạm tội từ 02 lần trở lên): Thực hiện từ 02 hành vi phạm tội trở lên cùng một tội danh, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xét xử trong cùng một bản án (theo Công văn số 64/TANDTC-PC). Tình tiết này đóng vai trò là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52 BLHS) hoặc tình tiết định khung hình phạt.
    3. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Người đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới theo quy định tại Điều 53 BLHS năm 2015.
    4. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Người phạm tội cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (từ 05 lần trở lên) và lấy kết quả phạm tội làm nguồn thu nhập chính/nghề sinh sống. Tác giả luận án phản biện tiêu chí "nghề sinh sống" và "nguồn sống chính" trong các hướng dẫn hiện hành (như Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP), cho rằng thực tế có nhiều trường hợp đối tượng có công việc ổn định nhưng vẫn liên tiếp phạm tội để gia tăng tài sản, do đó việc quy định dấu hiệu này gây khó khăn cho việc định tội và áp dụng hình phạt.
Tiêu chí phân biệt Phạm tội từ 02 lần trở lên Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Số lần phạm tội Từ 02 lần trở lên về cùng một tội phạm. Từ 05 lần trở lên trong một khoảng thời gian liên tục.
Hình thức lỗi Có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Bắt buộc phải là lỗi cố ý.
Động cơ, mục đích Không bắt buộc phải có mục đích vụ lợi hay kiếm sống. Lấy hành vi phạm tội làm nghề sinh sống, nguồn sống chính (theo hướng dẫn tư pháp).
Tình trạng xét xử Các lần phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xét xử trong cùng bản án. Không phụ thuộc vào việc đã bị xét xử hay chưa bị xét xử (miễn là chưa xóa án tích/còn thời hiệu).
Ý nghĩa pháp lý Là tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 52 BLHS) hoặc tình tiết định khung. Là tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 52) hoặc tình tiết định khung tăng nặng (ví dụ Điều 365, 324 BLHS).

Chương 3. Pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

Chương này đánh giá thực trạng các quy định của BLHS Việt Nam và khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2012 - 2021):

  • Đánh giá sự chuyển biến của hệ thống lập pháp từ BLHS 1985, BLHS 1999 đến BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) trong việc cá thể hóa hình phạt và quy định nguyên tắc tổng hợp hình phạt.
  • Phân tích thực tiễn xét xử các vụ án có nhiều tội phạm tại TAND hai cấp TP. Hà Nội, nhận diện những kết quả đạt được trong việc xử lý nghiêm minh các vụ án phức tạp.
  • Chỉ ra các sai sót thực tế: định tội danh không chính xác, nhầm lẫn giữa phạm tội từ 02 lần trở lên với phạm nhiều tội hoặc tái phạm nguy hiểm; áp dụng mức phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của chuỗi hành vi; vướng mắc khi tổng hợp hình phạt tù có thời hạn với các loại hình phạt khác. Phân tích nguyên nhân từ quy định luật còn trừu tượng, văn bản hướng dẫn thiếu đồng bộ và trình độ của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng.

Chương 4. Các yêu cầu và các giải pháp đảm bảo quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm

Chương 4 xác lập các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Xác định các yêu cầu bảo đảm quyết định hình phạt: tuân thủ nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng, cá thể hóa hình phạt, bảo đảm tính tương xứng giữa tính chất nguy hiểm của tội phạm và hình phạt áp dụng.
  • Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến căn cứ quyết định hình phạt, quy định cụ thể hóa dấu hiệu "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", hướng dẫn thống nhất cách tính tổng hợp hình phạt trong các trường hợp phức tạp.
  • Đề xuất nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: tăng cường tập huấn chuyên môn cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; củng cố cơ chế giám đốc kiểm tra án và tổng kết án lệ từ thực tiễn xét xử.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án là công trình khoa học cấp tiến sĩ luật học nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm dưới góc độ một giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.
  2. Xây dựng và hoàn thiện khung lý thuyết cơ bản về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, làm rõ các khái niệm, đặc điểm, bản chất, nguyên tắc và các yếu tố tác động đến chất lượng quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử.
  3. Phân định ranh giới pháp lý và khoa học giữa 4 hình thức của nhiều tội phạm (phạm nhiều tội; phạm tội từ 02 lần trở lên; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp), đồng thời đưa ra phản biện khoa học về dấu hiệu "nguồn sống chính/nghề sinh sống" của tình tiết phạm tội chuyên nghiệp.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Khảo sát, đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn xét xử các vụ án nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 10 năm (2012 - 2021), chỉ rõ những vướng mắc, sai sót thực tế và nguyên nhân gốc rễ.
  2. Đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và nâng cao chất lượng hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát dữ liệu thực tiễn trên địa bàn Thành phố Hà Nội và giới hạn khung thời gian khảo sát từ năm 2012 đến năm 2021. Do đó, một số đặc thù xét xử tại các địa bàn khác chưa được phản ánh đầy đủ trong dữ liệu thực nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất tiếp tục mở rộng các nghiên cứu mang tính đa ngành và liên ngành (kết hợp tội phạm học, xã hội học hình phạt, tâm lý học tư pháp); mở rộng phạm vi khảo sát ra các tỉnh, thành phố khác trên cả nước và nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tổng hợp hình phạt đối với các loại hình phạt phi giam giữ trong trường hợp nhiều tội phạm.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan giải thích pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các quy định của BLHS, sửa đổi các nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về định tội danh và quyết định hình phạt.
  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên: Làm tài liệu tra cứu, hỗ trợ phân định chính xác các hình thức nhiều tội phạm, khắc phục các sai sót trong việc định tội và tổng hợp hình phạt khi xét xử vụ án hình sự.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về Luật Hình sự, Tố tụng Hình sự, Tội phạm học và Xã hội học hình phạt tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại "nhiều tội phạm" thành những hình thức nào?

Luận án xác định nhiều tội phạm tồn tại dưới 4 hình thức cơ bản:

  1. Phạm nhiều tội;
  2. Phạm tội nhiều lần (tương ứng với cụm từ "phạm tội từ 02 lần trở lên" trong BLHS 2015);
  3. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm;
  4. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

2. Tác giả luận án phản biện điểm nào trong quy định hiện hành về "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"?

Tác giả phản biện việc các văn bản hướng dẫn tư pháp (như Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP) bắt buộc phải có dấu hiệu "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống" hoặc "lấy kết quả phạm tội làm nguồn sống chính/nguồn thu nhập". Tác giả chỉ ra rằng thực tế có nhiều đối tượng đã có việc làm và thu nhập ổn định nhưng vẫn cố ý phạm tội liên tục nhằm gia tăng tài sản, do đó tiêu chí "nguồn sống chính" là không phù hợp và gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật của Tòa án.

3. Hai cách tiếp cận của tư pháp quốc tế về quyết định hình phạt đối với người phạm nhiều tội là gì?

Theo tổng quan nghiên cứu quốc tế trong luận án, có hai cách tiếp cận:

  • Cách tiếp cận cộng dồn: Cộng tổng hình phạt của từng tội riêng biệt. Cách tiếp cận này đơn giản nhưng dễ vi phạm nguyên tắc cân bằng, khiến người phạm nhiều tội ít nghiêm trọng phải chịu mức án quá nặng tương đương tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Cách tiếp cận chiết khấu (tổng hợp/gộp hình phạt): Áp dụng hình phạt tối đa của tội nặng nhất và các tội khác chấp hành đồng thời hoặc khấu trừ. Cách tiếp cận này giảm mức phạt tổng thể nhưng gây tranh cãi vì làm giảm tính nghiêm khắc đối với từng tội danh riêng lẻ.

4. Dấu hiệu pháp lý để phân biệt "phạm nhiều tội" và "phạm tội từ 02 lần trở lên" là gì?

  • Phạm nhiều tội: Người phạm tội thực hiện từ hai tội phạm trở lên, mỗi tội phạm được định ở các điều luật khác nhau (hoặc các khoản khác nhau nếu đối tượng tác động khác nhau) và Tòa án phải quyết định hình phạt cho từng tội rồi mới tiến hành tổng hợp hình phạt theo Điều 55, Điều 56 BLHS.
  • Phạm tội từ 02 lần trở lên: Người phạm tội thực hiện từ hai hành vi trở lên thỏa mãn cùng một tội danh tại một điều luật cụ thể, các hành vi bị xét xử trong cùng một vụ án và được xem xét như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52 BLHS) hoặc tình tiết định khung tăng nặng của tội danh đó.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm từ thực tiễn thành phố Hà Nội" đã hoàn thiện hệ thống lý luận về quyết định hình phạt như một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự phức hợp. Công trình đã làm rõ các tiêu chí phân định 4 hình thức của nhiều tội phạm, khắc phục các bất cập lý luận về dấu hiệu định tội và định khung. Thông qua việc phân tích thực chứng các bản án tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021, luận án đã chỉ ra các nguyên nhân sai sót thực tế và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp, áp dụng pháp luật có giá trị ứng dụng cao cho tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.