Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. KHÁI NIỆM; ĐẶC ĐIỂM TÂM, SINH LÝ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm Điều 1 Công ước quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 20 - 11- 1989 đã định nghĩa về trẻ em như sau: "Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn". Quy tắc tối thiểu chuẩn của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29 – 11 - 1985 nêu: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật cụ thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" (Quy tắc số 2.
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" (Quy tắc 2. Như vậy, có thể khẳng định rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, pháp luật quốc tế dựa vào đặc điểm tâm, sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần thông qua việc xác định độ tuổi. Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội, 7 z văn hóa truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn.
Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Theo đó, pháp luật Việt Nam cũng quy định độ tuổi đủ 18 tuổi là căn cứ để xác định người đó đã thành niên. Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định "Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên".
Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam quy định "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân dưới 16 tuổi". Vì vậy, người chưa thành niên được xác định là người dưới 18 tuổi. Đặc điểm tâm, sinh lý người chưa thành niên Sở dĩ Nhà nước ta có những chính sách riêng cho đối tượng phạm tội là người chưa thành niên vì xuất phát từ tính đặc thù của đối tượng này. Chủ thể của tội phạm là những người tuổi đời còn ít, kinh nghiệm sống chưa nhiều, hiểu biết pháp luật và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế.
Đặc biệt, đây là lứa tuổi đang có sự biến đổi mạnh mẽ về tâm, sinh lý và là giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Người chưa thành niên đang ở giai đoạn dậy thì, xảy ra những biến động mãnh liệt về tâm lý của mỗi con người, cũng là thời kỳ then chốt của phát triển tâm lý. Đương nhiên, quá trình phát triển tâm lý có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa mà những người chưa thành niên đang sống và cũng liên quan đến quá trình phát dục, thành thục về sinh lý. Bước vào thời kỳ này, họ phải đối phó với những thay đổi to lớn trong môi trường học tập và rất nhiều yêu cầu mới của xã hội.
Con người đứng trước những thay đổi sinh lý hình thái rất đột ngột, như cao vổng lên, sức mạnh cơ bắp, kinh nguyệt, di tinh, vỡ giọng… tất nhiên sẽ dẫn đến hàng loạt những 8 z biến động tâm lý. Ở thời kỳ này, đặc trưng tâm lý còn vương chút trẻ con lại có những mầm mống mới nhú của tâm lý người lớn. Qua giai đoạn này có sự thay đổi căn bản về tâm, sinh lý nên thường mong muốn người lớn tôn trọng mình, luôn muốn khẳng định mình đã trưởng thành và không chấp nhận sự can thiệp quá sâu của người lớn vào đời sống cá nhân. Tuy nhiên, họ thường có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá.
Hoặc đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực, hoặc lại đánh giá quá cao nhân cách của mình, tự cao tự đại. Ở lứa tuổi này, nếu không quan tâm sát sao thì sẽ tạo cho họ cơ hội vi phạm các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực đạo đức và vi phạm pháp luật. Bởi thời kỳ này bộc lộ cá tính rất mạnh, sự tự quan sát, tự đánh giá, tự thể hiện, tự đôn đốc, tự khống chế… đều được tăng cường. Ở thì kỳ này bắt đầu có cảm nghĩ mình là người lớn, thầm lặng cảm thấy mình đang dần thành người lớn.
Vì tự ý thức được như thế nên tính tự giác cũng được nâng cao, nôn nóng tìm kiếm cái cốt lõi của cuộc sống. Ý thức xã hội được tăng cường mau chóng, rất nhạy bén với mọi biến động của xã hội, dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân và khát khao được người khác đánh giá, hết sức quan tâm đến sự phát triển sở thích cá nhân. Ở tuổi này, dễ bị ảnh hưởng ở hoàn cảnh bên ngoài, bởi tính nết, tình cảm. Bên cạnh đó, xã hội hiện đại ẩn chứa nhiều mặt trái kích thích người chưa thành niên phạm tội: Những trò chơi điện tử bạo lực với những cảnh bắn súng, chém giết…; phim hành động bạo lực không chỉ chiếu ở rạp phim, băng đĩa mà còn cả trên truyền hình hằng ngày.
Những yếu tố này, khiến chúng hoài nghi và cảm thấy xung quanh bất ổn, muốn bảo vệ bản thân. Trạng thái tâm lý đó kéo khoảng cách giữa hành động ảo và hành động phạm tội gần nhau hơn và khiến chúng bắt chước theo. Người chưa thành niên còn "có xu hướng thiếu khả năng kiềm chế do các quá trình hưng phấn của vỏ não mạnh và chiếm ưu thế, các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm" [11, tr. Do vậy, nhiều khi họ không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh, dễ bị kích động, dễ bị tức, cáu kỉnh, mất bình tĩnh… nên dễ phạm sai lầm.
Ở lứa tuổi 9 z này còn xuất hiện hiện tượng "khủng hoảng" về tâm lý. Sự khủng hoảng có thể dẫn đến những "xung đột" nhất định. Những "khủng hoảng" và những "xung đột" này nếu không được giải tỏa kịp thời, đúng đắn sẽ dẫn đến các hành vi bạo động hoặc sống buông thả, bất cần. Nhu cầu giao tiếp và mở rộng mối quan hệ bạn bè là một điểm đặc trưng của lứa tuổi chưa thành niên.
Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, rỗi rãi, trong tiêu khiển, trong việc phát triển nhu cầu, sở thích… người chưa thành niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là hướng vào cha mẹ. Họ thích giao du bạn bè, thích túm năm tụm ba. Nếu không có sự quản lý chặt chẽ của gia đình, nhà trường thì họ dễ bỏ học, đi lang thang. Vì vậy, dễ có khả năng họ có những hành vi phạm tội.
Nhóm bạn xấu cũng xuất hiện từ đây. Đa số những người vi phạm pháp luật ở độ tuổi chưa thành niên đều có hiện tượng bỏ học, đi lang thang. Lứa tuổi này rất dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu. Bởi ở lứa tuổi này, tính tình có sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ, rất không ổn định, rất dễ chuyển từ cực này sang cự kia.
Sở dĩ gọi là lưỡng cực trong tính nết của người chưa thành niên là do họ có biểu hiện trong tính tình khẳng định và phủ định, tích cực và tiêu cực, khẩn trương và buông lỏng, hoạt động và lập lờ, yêu và ghét, vui vẻ và chán nản, hấp tấp và bình tĩnh, cáu bẳn và bình ổn. Tính hai cực có nguồn gốc ở cơ chế sinh lý, nhưng nó có nguyên nhân xã hội. Nếu phân tích theo cơ chế sinh lý thì tính nết là kết quả của hoạt động phối hợp của vỏ đại não và thần kinh giao cảm dưới lớp vỏ đó. Ở tuổi dậy thì chức năng nội tiết phát triển rất mau lẹ, nhưng tác dụng ức chế của vỏ não thì chưa tới mức hoàn hảo, nên có đặc trưng là tính nết ở tuổi này rất thất thường.
Còn nếu phân tích theo nguyên nhân xã hội thì đối với những người chưa thành niên có nhiều nhu cầu rất mãnh liệt, ra sức muốn biểu hiện sức lực của mình. Nhưng chưa có được nhận thức đầy đủ với tính cách phức tạp của xã hội, chưa thấu hiểu tính hợp lý và tính khả thi trong hành vi của bản thân cũng như chưa xác lập được một 10 z nhân sinh quan đúng đắn, nguyện vọng và hiện thực không sao thống nhất được, nên dẫn họ đến những xao động rất lớn trong tính tình. Sự nhận thức ở người chưa thành niên còn rất hạn chế, trình độ học vấn chưa hoàn thiện, vốn kinh nghiệm và hiểu biết xã hội còn ít, sự thông hiểu và chấp hành các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực xã hội và pháp luật chưa cao. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành.
Đặc biệt là sự phát triển của tư duy lý luận và tư duy trừu tượng nên các em có khả năng lĩnh hội nhanh những vấn đề được giáo dục. Bởi đây là thời kỳ hoàng kim để phát triển trí lực, họ chuyển từ ghi nhớ máy móc sang phần ghi nhớ có ý nghĩa và bắt đầu nhớ được từng phần theo ý nghĩa sang ghi nhớ có ý nghĩa toàn bộ như về tư duy, tư duy lấy tôi làm trung tâm đã phát triển tới tư duy logic, trừu tượng. Về mặt học tập, động cơ, thái độ, hứng thú và năng lực học tập đều được nâng cao. Vì các môn học nhiều thêm, nội dung đã phân biệt, nên tư duy trừu tượng logic được dịp phát triển.
Khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán cũng được nâng cao.