Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỒNG PHẠM 1. KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỒNG PHẠM 1. Khái niệm đồng phạm Nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm cho thấy một tội phạm có thể do một hoặc nhiều người thực hiện. Được coi là đồng phạm khi những người phạm tội có chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể.
Pháp luật hình sự các nước quan niệm không giống nhau về khái niệm đồng phạm. Điểm qua quy định của một số nước trên thế giới quy định về khái niệm đồng phạm thấy rằng: Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định về người đồng phạm là người phối hợp với người khác cùng thực hiện một hành vi phạm tội hoặc một người tìm cách xúi giục người khác phạm tội hoặc đề nghị người khác phạm tội. Hình phạt đối với người đồng phạm được quy định nhẹ hơn hình phạt nặng nhất và có thể thấp hơn hình phạt nhẹ nhất áp dụng đối với tội đã hoàn thành (Điều 2 Chương 23). Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: "Khi xét xử từng người đồng phạm phải căn cứ vào việc người đó tham gia thực hiện tội phạm do cố ý hay vô ý" {Điều 4 (Chương 23)}.
Như vậy, luật hình sự một số nước quan niệm đồng phạm có cả trong những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý. Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định về khái niệm người đồng phạm bao gồm người "đồng chính phạm" và "người xúi giục, người giúp sức". Theo đó, hai hoặc nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là những chính phạm (Điều 60). Người xúi giục người khác hoặc xui người xúi giục sẽ bị xử lý như người chính phạm (Điều 61).
Người giúp đỡ chính phạm và người xui người giúp đỡ chính phạm là người giúp sức (Điều 62). Hình phạt đối với 7 z người giúp sức được giảm nhẹ hơn so với hình phạt đối với chính phạm (Điều 63). Người xúi giục hoặc giúp sức thực hiện một tội phạm mà đối với tội đó bị xử phạt giam hình sự hoặc bị phạt tiền về tội hình sự nhỏ thì không bị xử phạt, trừ trường hợp có quy định khác (Điều 64). Bộ luật hình sự Pháp cũng quy định về chính phạm và đồng phạm (tòng phạm).
Theo đó, chính phạm là người thực hiện các hành vi bị coi là tội phạm hoặc chuẩn bị thực hiện một trọng tội hoặc khinh tội trong trường hợp luật quy định (Điều 121. Người có ý thức giúp đỡ hoặc trợ lực và đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị hoặc thực hiện tội phạm bị coi là đồng phạm của một trọng tội hoặc khinh tội. Người dùng tặng vật, hứa hẹn, đe dọa, dùng mệnh lệnh, lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để xúi giục hoặc có các chỉ dẫn để cho người khác thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm (Điều 121. Người đồng phạm bị phạt như chính phạm (Điều 121.
Về các loại người đồng phạm và trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm, Điều 133 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: "các loại người đồng phạm gồm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức". Bộ luật hình sự Liên bang Nga, giống như Bộ luật hình sự nước ta, quan niệm đồng phạm chỉ có trong các tội phạm cố ý. Điều 32 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: "Hai hay nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội cố ý là đồng phạm". Vấn đề đồng phạm được luật hình sự Việt Nam quy định từ sớm.
Quốc triều hình luật tuy chưa có quy định về khái niệm nhưng cũng đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại một số điều như Điều 35, Điều 36, Điều 116, Điều 411, Điều 412, Điều 454, Điều 469, Điều 539 (1). Các điều trên không quy định về khái niệm đồng phạm mà chỉ quy định về những người đồng phạm, bao gồm: thủ phạm, kẻ chủ mưu, kẻ tòng phạm (người xúi giục, người giúp sức), đồng thời đã có những quy định phân hóa trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Ví dụ, Điều 53 Quốc triều hình luật quy định: 8 z "Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng" [28, tr.
Điều 469 Quốc triều hình luật quy định: Đồng mưu đánh người bị thương thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm; kẻ chủ mưu cũng phải cùng một tội; còn người tòng phạm thì được giảm một bậc; đánh đến chết thì xem xét chết vì thương tích nào, kẻ đánh thương tích ấy nặng tội. Nếu không xét được rõ ràng thì kẻ hạ thủ sau cùng xử nặng tội. Nếu đánh loạn xạ không biết ai đánh trước sau, nhiều ít thì kẻ chủ mưu nặng tội nhất, còn kẻ khác đều xử giảm tội một bậc [28, tr. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta đã sử dụng thuật ngữ "cộng phạm" để nói về khái niệm đồng phạm.
Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của ngành Tòa án, "coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội". Theo quan niệm này, dấu hiệu xác định đồng phạm là hai người trở lên cùng chung ý chí và hành động nhằm đạt kết quả phạm tội. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhằm bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, bảo vệ trật tự xã hội mới Nhà nước ta đã ban hành một số sắc lệnh về việc trừng trị một số tội phạm trong đó có quy định việc xử lý các trường hợp cộng phạm theo nguyên tắc "Những người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của các tội phạm cũng bị xử lý như chính phạm" [16]. Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 quy định: "Người phạm tội đưa hối lộ và nhận hối lộ có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là 3/4 tài sản.
Những người đồng phạm khác cũng bị xử phạt như trên". 9 z Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 đã quy định về các loại người đồng phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự khá rõ đối với từng người người đồng phạm, tùy thuộc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của họ. Điều 2 Pháp lệnh trên quy định nguyên tắc trừng trị bọn phản cách mạng là "nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn thủ ác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những kẻ thật thà hối cải, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộc tội". Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng đã phân hóa trách nhiệm hình sự của các loại người: chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, xúi giục, người hoạt động đắc lực, người tham gia, giúp đỡ.
Ví dụ, Điều 6 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng khi đề cập tội xâm phạm an ninh lãnh thổ đã quy định: Kẻ nào xâm nhập lãnh thổ, phá hoại an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì bị xử phạt như sau: a) Bọn cầm đầu, chỉ huy, bọn có tội ác nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình; b) Bọn tham gia thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm; c) Kẻ nào tiếp tế, chỉ đường, giúp đỡ cho bọn nói trên hoạt động thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm [39]. Trong các pháp lệnh được ban hành dù vẫn chưa đưa ra khái niệm về đồng phạm nhưng nhận thức và quy định về đồng phạm đã có bước tiến bộ đáng kể. Đáng chú ý nhất là các văn bản nêu trên đã nêu nguyên tắc xử lý: khi xét xử cần phân biệt giữa các hình thức đồng phạm khác nhau, phân biệt giữa hành vi "oa trữ" tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do chiếm đoạt được mà có là cộng phạm (nếu có hứa hẹn trước) với hành vi "oa trữ" không là cộng phạm mà là một hành vi phạm tội riêng biệt (nếu không có hứa hẹn trước). Tòa án nhân dân tối cao đã có một số văn bản hướng dẫn khái niệm về cộng phạm đối với một số tội phạm cụ thể [31, tr.
10 z Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 thì chưa có một căn bản pháp luật hình sự nào quy định thống nhất về khái niệm cộng phạm đối với tội phạm nói chung. Để có cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xử lý về hình sự đối với những trường hợp nhiều người có ý cùng thực hiện một tội phạm, Bộ luật hình sự đã có điều luật riêng quy định về đồng phạm. Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự 1999 quy định đồng phạm là trường hợp "có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm". Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm đồng phạm như sau: "Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên" [10, tr.
Điều 20 Bộ luật hình sự nước ta quy định khái niệm đồng phạm ngay tại khoản 1, sau đó mới quy định các loại người đồng phạm tại khoản 2. Như vậy, để được coi là người đồng phạm với vai trò là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì trước hết những người này phải thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tại khoản 1, nghĩa là phải thỏa mãn dấu hiệu hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Quan điểm phổ biến trong lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự hiện nay cho rằng, để được coi là "cố ý cùng thực hiện một tội phạm" trong vụ đồng phạm thì ngoài việc mỗi người tham gia vào việc phạm tội phải có lỗi cố ý, ít nhất họ còn phải nhận thức được sự cố ý tham gia vào việc phạm tội của người thứ hai cùng với mình để thực hiện một tội phạm.